Tìm Hiểu Về Con Người Vua Tự Đức, phần II-TCPT số 30

Posted on Tháng Một 12, 2010 bởi

0



Tiếp theo bài Tìm Hiểu Về Con Người Vua Tự Đức trong số 29, Tạp Chí Thanh Niên Phía Trước trong số này tiếp tục giới thiệu đến quý độc giả quá trình học tập của Vua Tự Đức và sự ảnh hưởng của gia đình trong việc điều phối đất nước.


DD. Quá Trình Học Tập

Qua bài tựa cuốn “Ngự Chế Thi Sơ Tập“, Tự Ðức cho biết về quá trình học tập  như sau:

“Thời còn làm Hoàng-tôn (dưới 13 tuổ)i, các thầy được gặp chẳng qua một vài vị Tú tài già, các sách giáo khoa cũng chỉ là những loại vở lòng Tiểu học, chuyên về âm chữ, phân đoạn, đặt câu; phép dạy dỗ theo tập quán, thực không hợp cách” (21).

Ðến khi lên làm Hoàng tử (từ 13 đến 19 tuổi) nhà vua mới được thọ giáo với những thầy giỏi hơn và sự học tập cũng có phần tiến bộ hơn trước. Tuy nhiên sự học trong thời gian này cũng không gặt hái được kết quả đúng mức vì những lý do sau đây:

- Chức học quan bổng lộc rất bạc bẽo, nên những nhà Nho nỗi tiếng không muốn đảm nhận.

- Các thầy dạy Hoàng tử thường sợ phiền lụy, nên không muốn nghiêm khắc với những cậu học trò có nhiều quyền thế, nên sự học của các Hoàng tử có phần trể nãi.

Cũng trong “Ngự Chế Thi Sơ Tập Tự Tự“, Tự Ðức tâm sự như sau:

Kíp đến khi làm Hoàng tử, chỉ trong vòng 7 năm trời mới được thầy dạy có phần khá hơn. Các sách Thi, Thư, Tứ Tử cũng chưa học trọn; còn kinh, sử, tử, tập thì hoàn toàn chưa được thiệp liệp, huống chi văn thơ của các nhà khác! Cũng vì chức Học quan bạc bẽo lộc ít, các bậc đại khoa cự Nho chẳng ai muốn lãnh. Tuy chức này tiếng là do triều đình tuyển nhưng thực tế vẫn bị coi thường, nên không đề cử những người hữu dụng vào chức vô dụng đó!

Hơn nữa phàm con người tính tuổi trẻ, thường lấy sự phóng túng làm vui, bị câu thúc làm buồn, chỉ muốn chơi đùa cho hết năm tháng nào biết đâu tuổi già sồng sộc sắp đến và sự học có ích như thế nào? Về phần thầy cũng mong cho trò được tiến thoái tự do, nóng lạnh không liên quan đến mình, thì còn rỗi công đâu mà chỉ trích! Như vậy là thầy trò cùng dễ dãi cho nhau mà không biết đã làm hại nhau vậy!”

Qua tài liệu đã đề cập, được biết thời gian vua Tự Ðức trực tiếp thụ huấn các bậc thầy tương đối ngắn ngủi và sở học cũng chưa được trau dồi đúng mức. Kíp đến khi lên ngôi vua, có những phút cảm hứng muốn sáng tác, nhưng vì công hàm dưỡng chưa sâu nên đã gây cản trở trong sự diễn tả ý tưởng. Lúc này nhà vua mới nhận ra sở đoản của mình và bắt tay vào công việc tự học; nhờ tinh thần hiếu học và lòng say mê văn chương nên đã  gặt hái được thành công vẽ vang. Ðoạn văn trích dẫn sau đây nói lên tính cần cù, đam mê trí thức của nhà vua:

“Không may chưa đến tuổi gia quan [20 tuổi] đã bỏ học để gánh vác việc khó khăn. Lúc đó mới tập làm thơ luật, ý tuy đã có nhưng bút diễn không ra lời, vì vậy mới quyết chí vào việc học; trong giờ rảnh việc chính trị, chỉ có lạc thú duy nhất là đọc sách. Một mình cần cù, lấy sách giải sách; lĩnh hội được thì sung sướng vô cùng, nhưng cũng chưa dám vội tin; chưa hiểu được thì cho là khuyết nghi, đợi chờ người cao minh giảng giãi. Người xưa với ta cùng đối mặt trò chuyện với nhau trong một nhà, như kẻ lạc đường có xe chỉ nam dẫn lối. Rồi trình độ học vấn cứ từ từ mà tiến, ý đã có thì lời có thể diễn tả trọn ý, việc suy ra thì lời có thể ứng với việc, ý trong chưa hết thì văn ngoài chưa dứt; lúc đầu bế tắc, kế đó lĩnh hội được sơ sài và cuối cùng tụ lại bất giác đã được khá nhiều (21).

Công bằng mà xét, Tự Ðức có một cơ duyên đặc biệt trên bước đường tự học. Chung quanh nhà vua, đám quần thần như Trương Ðăng Quế, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tư Giản đều là những nhà Nho hay chữ. Ngoài ra nhà vua có ba vị Hoàng thúc Tùng thiện vương, Tuy lý vương, Tương an quận vương đều là thi sĩ nỗi danh đương thời.

Ưng Trình qua cuốn “Tùng thiện vương” kể lại như sau:

Tự Ðức triệu Tùng thiện vương vào cung để yêu cầu dạy làm thơ. Vương tâu vua xin đừng làm thơ, vì nghề trị nước trách nhiệm nặng nề tâm không được nhàn, nên từ xưa các vị chí tôn dẩu làm thơ thì chỉ tiêu khiển nhất thời mà thôi; tuy nhiên vì vua thích nên đành phải dạy. Mỗi khi tiếp Thị vệ đệ tráp Ngự chế thi đến, Tùng thiện vương bèn mặc áo rộng, tra khăn đen, tự tay mở Hoàng phong ra rồi viết mật sớ, tâu nên đổi chữ nào và vì cớ gì phải đổi.

Ngoài tấm lòng yêu văn chương nhiệt thành, nhà vua còn có thêm một khả năng đặc biệt hiếm thấy ở các nhà Nho khác, đó là phương pháp nghiên cứu và hệ thống hoá vấn đề. Ví như khi soạn cuốn sách giáo khoa “Tự Ðức Thánh Chế Tự Học Giải Nghĩa Ca” nhà vua đã dụng công chia ngữ vựng chữ Hán ra thành môn loại, với lối xếp đặt khoa học như vậy giúp cho người đọc dễ lãnh hội:

1. Kham dư loại (địa dư)

2. Nhân sự loại (con người)

3. Chính hoá lọai (chính trị, giáo dục)

4. Khí dụng loại (đồ dùng)

5. Thảo mộc loại (cây cỏ)

6. Cầm thú loại (thú vật, gia súc)

7. Trùng ngư loại (tôm cá, côn trùng)

Nếu so sánh cuốn sách này với cuốn sách vở lòng chữ Hán thông dụng Tam Thiên Tự; phải công nhận sách của Tự Ðức công phu hơn và cũng có phương pháp hơn. Tam Thiên Tự tuy có vần, nhưng liệt kê ngữ vựng một cách tùy tiện, thiếu sư phạm. Ngược lại tác phẩm “Tự Ðức Thánh Chế Tự Học Giải Nghĩa Ca” được hệ thống hóa bằng cách phân loại và đặc biệt sử dụng thơ Lục Bát là thể thơ quen thuộc với người Việt Nam nên dễ đọc dễ nhớ. Ðể tiện việc so sánh, xin trích dẫn một vài câu mở đầu của hai tác phẩm:

Tam Thiên Tự

Thiên trời, địa đất;
Cử cất, tồn còn.
Tử con, tôn cháu,
Lục sáu, tam ba.

Tự Học Giải Nghĩa Ca

Thiên trời, địa đất, vị ngôi,
Phú che, tái chở, lưu trôi, mãn đầy.

Cao cao, bác rộng, hậu dày,
Thần mai, mộ tối, chuyển xây, di dời.

Tổng quan về học vấn và sự nghiệp văn chương, phải nói tài bộ của vua Tự Ðức đã đi đến chỗ thăng đường nhập thất (22) vượt xa sự nghiệp chính trị của nhà vua.

E. Ảnh Hưởng Của Gia Đình Đối Với Vua Tự Đức

1. Ảnh hưởng của vua cha Thiệu Trị

Dưới thời quân chủ, các Hoàng tử và vua cha có sự cách biệt rất nghiêm khắc. Dù là con các Hoàng tử vẫn phải luôn luôn giữ đạo thần tử; khi có chỉ tuyên triệu mới được bệ kiến, chứ không được tự tiện ra vào nơi cung cấm. Hơn nữa lúc trưởng thành các Hoàng tử đều có phủ đệ riêng, nên sự liên lạc giửa cha con lại càng bị ngăn cách.

Riêng vua Thiệu Trị rất đông con (64 người) lại có lắm vợ, tình cảm của nhà vua được ban phát khắp cả tam cung lục viện, thì đâu còn dồi dào để chú ý đến cậu bé Hồng Nhậm gầy yếu bệnh tật.

Thực vậy, ngoài bộ “Ðại Nam Thực Lục” là sử của Triều-đình, có nói đến sự lưu ý của Thiệu Trị đối vớI Tự Ðức, không có một tài liệu nào khác đề cập một cách rõ nét về tình cảm giữa hai cha con nhà vua. Phần mở đầu “Ðại Nam Thực Lục Ðệ Tứ Kỷ” ghi như sau:

“Tháng giêng năm Thiệu Trị thứ ba được phong Phước tuy công. An phong công Hồng Bảo tuy lớn tuổi hơn nhưng thuộc dòng thứ, lại ít học ham chơi; riêng nhà vua tính tình nhân hậu, thông minh lại chăm học; được Hiến Tổ Chương Hoàng-đế [Thiệu trị] cho là giống mình nên đặc biệt thương mến chú ý. Mấy lần phụng sắc chỉ vào chầu, dạy cho đạo làm vua cùng sự vất vả của nhân dân trong việc canh tác.”

Qua đoạn văn trích dẫn, Sử quan đã dùng ngòi bút nhà nghề khéo léo ca tụng vua Tự Ðức, chê Hồng Bảo, để gián tiếp biện minh cho việc phế trưởng lập thứ. Sử liệu này không giúp cho người khảo cứu thấy được ảnh hưởng thực sự của vua Thiệu Trị đối với Tự Ðức; hay nói một cách khác ảnh hưởng của Thiệu Trị đối với Tự Ðức nếu có cũng mờ nhạt, không thể sánh với tình cha con đặm đà trong dân chúng.

2. Ảnh hưởng của Từ Dụ Hoàng thái hậu đối với vua Tự Ðức

Qua các tác phẩm của Tự Ðức, được biết nhà vua nhắc đến mẹ nhiều hơn cha; đặc biệt trong bài biểu tạ ơn mẹ nhân dịp Ngũ Tuần Ðại Khánh, Tự Ðức hết sức tán tụng mẹ, coi mẹ là trời, là thầy:

“Nuôi con ăn mẹ vậy, dạy con học cũng mẹ vậy; mẹ là thầy vậy.

Sinh con ra mẹ vậy, hiểu lòng con cũng mẹ vậy, mẹ là trời vậy (23).

Những sự kiện trên báo cho ta biết rằng ảnh hưởng của Từ Dụ đối với Tự Ðức thực mãnh liệt; bởi vậy muốn tìm hiểu về Tự Ðức không thể không xét kỹ về Từ Dụ Hoàng thái hậu.

Căn cứ vào sử liệu, được biết Từ Dụ không phải là người mẹ tầm thường; bà là một nhân vật thông minh khôn ngoan và có cơ tâm rõ rệt. Ðời bà đã thực hiện được những ý nguyện sau đây:

- Chiếm được lòng sủng ái của vua Thiệu Trị.
– Huấn luyện cho Tự Ðức chỉ biết có mẹ.
– Vận dụng cho con trai lên ngôi vua.
– Gián tiếp tham dự vào việc chính trị.

a. Chiếm được lòng sủng ái của vua Thiệu Trị

Từ Dụ Hoàng thái Hậu nhủ danh là Phạm Thị Hằng, được tuyển vào cung năm 14 tuổi để hầu vua Thiệu Trị. Dịp này, có hai người con gái miền Nam được tuyển vào cung cùng một lượt, bà và một cô gái khác, ái nữ của Quận công Nguyễn Văn Nhân. Theo lệ triều Nguyễn, ngôi thứ của cung phi lúc mới nhập cung cao hay thấp căn cứ vào chức tước của người cha. Vì tước Quận công lớn hơn chức Thượng thư của thân phụ bà; nên ngôi thứ của con gái quan Quận-công cao hơn bà . Sự kiện trên chứng tỏ rằng lúc mới vào cung hầu Thái tử Miên Tông, địa vị của bà còn thua sút những người khác.

Nhưng nhờ tài khéo léo chiều chuộng nhà vua, ngôi thứ của bà trong cung thăng rất mau: năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) được phong chức Thành phi, năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) được phong làm Quí phi, địa vị tối cao đứng đầu cả sáu cung. Bà được sủng ái đến nỗi khi được tuyên triệu vào hầu, nhà vua chỉ gọi là “Phi” chứ không bao giờ kêu tên.

Tiến xa hơn một bậc, khi Thiệu Trị ngự triều ở điện Khâm Văn, sai bà ngồi sau vách để nghe các quan tâu và xem vua phán có rõ ràng hay không:

“Vua thường ngự triều tại điện Khâm Văn, sai Lênh bà ngồi sau vách để nghe các quan tâu và vua ban huấn thị có được rõ ràng chăng” (24).

Qua các sử liệu vừa trình bày, được biết Từ Dụ xuất thân từ một cung nhân tầm thường, đã vượt lên hàng Quí phi, coi sóc cả sáu cung, lại được vua ban cho đặc ân buông rèm thính chính. Có được địa vị như vậy, hoàn toàn do sự khôn ngoan thông minh của bà tạo nên, và địa vị này đã giúp rất nhiều trong việc tạo dựng tương lai cho con bà.

b. Huấn luyện Tự Ðức chỉ biết có mẹ

Qua phần thể chất vua Tự Ðức, được biết thuở nhỏ nhà vua ốm đau bệnh tật liên miên và được Từ Dụ săn sóc suốt cả ngày đêm. Ðối với bà mẹ Việt Nam thương con, thì việc săn sóc con cái không lấy gì làm lạ; nhưng điều đáng lưu ý hơn là lời tâm sự sau đây của vua Tự Ðức:

“Hồi ta ba tuổi, bị bệnh đi tả cả đêm. Khi đó có vú nuôi song mẹ ta không bằng lòng, đuổi ra ngoài không cho làm vú nữa. Khi đi tả, hoặc nửa đêm hoặc hai phần đêm, mẹ ta thường chịu khó thức bồng đỡ luôn. Ngày sau ta khôn lớn, được phong Công tước ra ở tư các (25), mẹ ta còn cấm người vú tới lui. Đến khi ta lên ngôi, ta xin phép mẹ ta cho người vú ấy làm nữ quan” (26).

Sử liệu trên cho biết rằng thuở nhỏ Tự Ðức có một vú nuôi mà nhà vua rất thương yêu và cũng vì sự thương yêu đó nên Từ Dụ không bằng lòng, bèn đuổi bà vú đi; rồi khi nhà vua tuổi lớn ra ở tư các, bà vú đến thăm cũng bị Từ Dũ cấm cửa không cho tiếp xúc. Phân tách kỹ hơn ta có thể quả quyết rằng Từ Dũ đã ghen với cả tôi tớ ; bà không muốn con trai mình san sẽ tình cảm cho bất cứ ai  và muốn rằng đối với con, mẹ là tất cả!

Về phương diện này Từ Dụ cũng đã thành công một cách vẽ vang, vì bà đã uốn nắn vua Tự Ðức đúng như lòng mong muốn. Thực vậy, Tự Ðức quả là người con chí hiếu . Ðạo hiếu của nhà vua được sử sách ghi lại như: ngày chẵn hầu cung Từ Dụ, ngày lẽ ngự triều; hoặc soạn “Từ Huấn Lục” ghi lời mẹ dạy v.v… Riêng sách “Từ Dụ Hoàng Thái-hậu truyện” trình bày những chi tiết như sau:

“Bản tánh đức vua phụng sự bà chí hiếu lắm. Bà thường khi muốn nghe đọc sử, vua mỗi việc mỗi thừa thuận theo ý bà, chẳng có khi nào dám trái nhan sắc; chừng nào bà hết muốn nghe, bà dạy thôi đọc vua mới thôi, dầu mỏi cách nào đi nữa vua cũng cam chịu. Chẳng những việc đọc sử mà thôi, bất cứ là chuyện chi nhà vua cũng đều nhất nhất thừa hoan theo ý bà” (27).

Với sử liệu vừa trình bày, cùng liên tưởng đến vận nước khó khån, bổn phận làm vua lúc bấy giờ thực hết sức nặng nề; người xưa thường khuyên rằng “vì việc công nên quên việc tư” (công nhi vong tư), Tự Ðức lại để quá nhiều thì giờ săn sóc hầu hạ mẹ, chữ hiếu của nhà vua xét ra có phần mù quáng.

c . Vận động cho con trai lên ngôi báu

Việc phế trưởng lập thứ sau khi Thiệu Trị mất, là một việc làm bất thường gây sự kinh ngạc đối với dư luận đương thời. Theo lẽ thường tình, Hoàng tử Hồng Bảo con lớn vua Thiệu Trị lên nối ngôi, nhưng khi di chiếu tuyên đọc tại điện Cần Chánh thì không có tên Hồng Bảo, thay vào đó là Hồng Nhậm con Từ Dụ Hoàng Thái hậu được lên làm vua (tức Tự Ðức). Tiếp tục nghi lễ Hồng Nhậm khóc lạy lãnh mạng; trong khi đó Hồng Bảo phẫn uất thổ huyết hơn một đấu, nằm ngã vật giữa điện đình (28). Có nhiều sự nghi ngờ về biến cố lịch sử này ; phải chăng tờ chiếu bị tráo đổi? Từ Dụ Hoàng thái hậu có thực sự nhúng tay vào việc vận động cho Hồng Nhậm lên ngôi không?

Dĩ nhiên các bộ sử của triều Nguyễn đều phủ nhận việc làm này và chê hạnh kiểm Hồng Bảo, cùng đề cao vua Tự Ðức v.v… Tuy nhiên rãi rác đó đây qua thư tịch, người khảo cứu có thể bắt gặp một vài dấu vết tình cờ, gián tiếp trả lời câu hỏi nêu trên.

Bộ sử “Ðại-Nam Chính Biên Liệt Truyện” kể lại về giấc mộng của Từ Dụ như sau:

“Một hôm lệnh bà nằm mộng thấy thần nhân mặc áo rộng đai to, đầu bạc mày trắng, cầm một đạo sắc bằng giấy vàng chữ đỏ trên có dấu ấn tỷ và một xâu chuỗi minh châu trao cho lệnh bà và bảo: “Xem đó sau sẽ hiệu nghiệm”. Lệnh bà nhận lấy rồi có thai, sinh ra vua Tự Ðức đúng như lời trong mộng.”

Khó biết được giấc mộng có thực hay không, nhưng điều chắc chắn là người đầu tiên loan báo giấc mộng này, không ai khác hơn là bà Từ Dụ. Thiết nghĩ bà là ái nữ quan  Thượng thư bộ Lại, chắc phải hấp thụ một nền giáo dục nghiêm khắc, quyết không thể khinh suất thốt ra lời thiếu khiêm tốn nhắm loan truyền những dự triệu Ðế Vương, trong khi Hồng Nhậm chỉ là con thứ; vì như vậy có thể mang tội. Vậy đây chỉ có thể là một dự mưu, nhắm mục đích thần thánh hoá Hoàng tử Hồng Nhậm để chuẩn bị tranh chiếc ngai vàng. Hơn nữa bà là người có cơ tâm, lại có dịp buông rèm thính chính; chắc phải có thừa thông minh nhận được vị Đại thần nào có uy tín với vua để tìm cách kết thân. Ngược lại, các quan Đại-thần ắt cũng nể sợ muốn kết bè đảng với một nữ nhân vật được vua tin cậy,  luôn luôn có mặt sau hậu trường chính trị. Mặt khác Từ Dũ rất được vua sủng ái, giửa bà và vua là một cặp vợ chồng tâm đầu ý hợp, chắc chắn có những đêm trường tâm sự trong chốn khuê phòng, đó là những cuộc vận động hữu hiệu nhất.

Với những sự kiện vừa trình bày, có thể kết luận rằng bà là nhân vật chủ chốt trong việc vận động cho Hoàng tử Hồng Nhậm lên ngôi báu.

d. Gián tiếp can dự vào việc chính trị

Qua bài Tụng dâng lên mẹ nhân dịp “Thánh thọ lục tuần đại khánh” (29) Tự Ðức viết:

“Việc quốc kế dân sinh,Hỏi thăm để vui vẻ nhận điều tốt.
Nhưng mẹ không can dự vào việc triều chính,
Phép nhà giữ cẩn thận nghiêm trang”
(30).

Ðem đối chiếu đoạn văn trên với những điều đã tìm hiểu được về Từ Dụ Hoàng thái hậu, ta nhận thấy Tự Ðức viết những lời trên nhắm mục đích biện minh cho mẹ; chứ con người đầy cơ tâm và thông minh như bà, không thể hỏi việc chính trị với lý do giản dị là để biết điều tốt, mà không có ý kiến phê phán. Và ý kiến của Thái hậu, người được vua coi là trời, là thầy, ắt phải là một quyết định. Vậy thì việc Từ Dụ gián tiếp tham dự vào việc chính trị là một điều hiển nhiên không thể chối cãi được.

Thực ra điều này không những chỉ xảy ra dưới thời Tự Ðức, mà đã có trước đó dưới thời Thiệu Trị, và sau đó kể từ khi Tự Ðức thăng hà cho đến khi Thành Thái lên ngôi.

Như trên đã đề cập, dưới thời Thiệu Trị khi vua ngự triều, Từ Dụ được ngồi sau vách để nghe các quan tâu và vua ban lệnh có rõ ràng hay không. Dĩ nhiên lúc trình bày lại cho vua nghe, Từ Dụ không thể làm công việc đơn giản của chiếc máy ghi âm, và chắc rằng bà đã chứng tỏ sự thông minh quán xuyến của mình để được vua yêu bằng những lời phân tách nhận định vấn đề, đó là giai đọan đầu tham dự vào việc chính trị. Ðến khi lòng tin của đấng quân vương đã được củng cố, Từ Dụ chắc đã nói lên những lời có lợi cho con bà, vây cánh của bà và ngược lại vô hiệu hoá ảnh hưởng của phe Hồng Bảo. Lịch sử ghi nhận rằng phe Từ Dụ đã chiến thắng vẽ vang trong cuộc chạy đua giành giật ngôi báu; ngược lại đối thủ của con bà là Hoàng tử Hồng Bảo đã phẫn uất thổ huyết hơn một đấu, nằm bất tỉnh giửa điện Cần Chánh ngay trong buổi tuyên đọc di chiếu.

Kíp đến khi Tự Ðức lên ngôi, một phần vì thương con yếu đuối nhu nhược ; một phần vì kẻ thù của mẹ con bà là Hồng Bảo vẫn còn là mối đe dọa, nên bà lại càng lưu ý vào việc chính trị và cuối cùng đã loại được Hồng Bảo. Sự việc xảy ra sau khi Tự Ðức lên ngôi, Hồng Bảo âm mưu với một số tín đồ Thiên Chúa giáo để tìm cách dành lại ngôi báu (31). Cuối tháng giêng năm 1851, ông bị bắt lúc sửa soạn đáp tàu sang Âu Châu, sau đó được vua Tự Ðức tha cùng hứa lo cho ông được sung túc, nhận con ông làm con nuôi và ban cho 100 nén bạc và 1 nén vàng. Sau khi tha ông lại tiếp tục dự mưu, cho các đồng đảng ra ngoài để tìm ngọai viện. Việc phát giác, triều đình kết tội lăng trì, nhưng Tự Ðức giảm xuống chung thân, rồi trong ngục thất ông đã chết bằng giây thắt cổ (32); ngoài ra các con của ông đều bi giam và đổi sang họ Ðinh là họ của mẹ. Tiếp đến cuộc phản nghịch của Ðoàn Trưng, âm mưu lập con trưởng của Hồng Bảo là Ðinh Ðạo bị thất bại, cả gia đình Hồng Bảo gồm tám người đều bị xử thắt cổ.

Sách “Từ Dụ Hoàng thái hậu truyện” còn cung cấp thêm chứng liệu sau đây về việc vua Tự Ðức tỏ vẻ hối hận về vụ Hồng Bảo, lúc đọc sử Tàu cho mẹ nghe:

“Vua đọc đến đoạn em vua Hán Văn đế là Hoài nam vương Trường An làm phản bị phát giác. Hán Văn đế triệu em về kinh đô Trường An tha tội, rồi đày qua đất Thục. Dọc đường Hòai nam vương nghĩ giận mình lầm lỗi rủi ro, lại buồn vì nỗi có ông anh làm vua mà không dung được một thằng em, liền nhịn đói mà chết. Hán Văn đế nghe tin xót thương khóc lóc thái quá. Nhân dân lúc bấy giờ có câu hát rằng:

Một thước vải còn có thể may mặc chung với nhau.

Một đấu thóc còn có thể ăn chung với nhau.

Anh em hai người không dung nhau được!”

Lệnh bà dạy rằng:

- Người bạo nghịch như vậy mà trong lòng không biết tự oán trách mình, cững đáng làm lạ.

Vua tâu:

- Việc của anh con cũng thế, con mỗi mỗi không an tâm, con lấy làm buồn lắm!

Lệnh bà dạy:

- Phép nước không thể bỏ được; việc ân nghĩa giửa hai anh em lẽ đâu lại riêng tư. Lời hát quê của nhân dân đâu đủ làm phiền lòng vì việc anh em không dung nhau. Trong thân tộc chớ để trọng quyền, vì e rằng khó chế. Người đời khi lâm hồi biến, biết sao vuông tròn được!” (33)

Qua sử liệu vừa trình bày, có thể suy luận rằng Từ Dụ là một trong những nhân vật chủ trương tiêu diệt gia đình Hồng Bảo nhắm mục đích “nhổ cỏ phải nhổ cả rễ” riêng Tự Ðức chỉ vì yếu đuối mù quáng nghe lời mẹ, nên đành phải nhận một vết nhơ đối với gia tộc và lịch sử; nhưng thâm tâm nhà vua vẫn luôn luôn hối hận đau khổ về việc này.

Thực ra không phải chỉ riêng vụ Hồng Bảo mà suốt 36 năm trị vì của vua Tự Ðức, ảnh hưởng của Từ Dụ Hoàng thái hậu chẳng khác gì đám mây đen, bao phủ cả sân khấu chính trị thời bấy giờ. “Từ huấn lục” của Tự Ðức là một cuốn sách ghi lời chỉ dạy của Thái hậu, những đêm đọc sử cho mẹ nghe là những buổi nhân chuyện xưa nói chuyện đời nay, để bà bảo cho những việc nên làm, những người nên dùng v.v… Bọn gian thần thời bấy giờ biết được ảnh hưởng của Từ Dụ rất lớn, nên đã tìm cách lui tới mua chuộc.

Về điểm này, Phan Bội Châu, một nhân vật sống cách thời Tự Ðức không xa đã ghi nhận được nguồn dư luận đương thời đối với Từ Dụ Hoàng thái hậu và ông đã công phẫn trình bày trong cuốn “Việt Nam Vong Quốc Sử” như sau:

“Trong nước có Thái hậu họ Phạm, mẹ vua Tự Ðức đã ngu lại tham, thường can dự vào việc triều chính. Vua Tự Ðức việc gì cûng trình qua Thái hậu rồi mới thi hành. Nguyễn Văn Tường (34) thường lấy những vật quí người Pháp hối lộ, đem hiến cho Thái hậu để kết bè đảng . Hôn bà gian tặc lộng quyền trong ngoài, làm đảo điên quốc chính, các bậc chính nhân quân tử bị hãm hại, có kẻ bị chết chém có người bị cách chức về quê.  “國 中 有 太 后 范 氏 愚 而 貪, 爲 嗣 德 翼 宗 之 生 母, 干 預 朝 政, 翼 宗 事 事 稟 求 太 后 乃 行, 阮 文 詳 即 以 法 人 所 餌 之 重 賂, 結 母 后 心, 昏 婆 姦 賊, 表 裏 弄 權,

癲 倒 國 政, 陷 害 正 人 君 子, 或 則 橫 被 刀 斧, 或 則 黜 削 歸 里. (35)

Có người dễ dãi cho rằng Từ Dụ can dự vào việc chính trị là do lòng thương con. Dưới cặp mắt bà, vua Tự Ðức chỉ là cậu bé Hồng Nhậm bệnh tật yếu đuối cần được che chở đùm bọc, và tâm sự của bà cũng giống như tâm sự bà mẹ Việt Nam trong ca dao:

Ví dù cầu ván long đinh,

Cầu tre lắt lẽo gập ghềnh khó đi.

Khó đi mẹ dắt con đi,

Khó về mẹ cũng không hề bỏ con.

Tuy nhiên sự việc không quá đơn giản như vậy, bằng cớ là sau khi Tự Ðức mất, Từ Dụ lúc này đã trên 70 tuổi, cái tuổi mà con người ta có quyền gác bỏ thế sự, thì một lần nữa bà lại dấn thân vào việc chính trị. Nguyên sau khi quân ta tấn công vào đồn Mang Cá bị thất bại, xa giá phải bôn ba ra Quảng Trị; tới đây bà nhất quyết đòi trở về Huế. Rồi bà xuống dụ cho người gọi Hàm Nghi từ chiến khu về, nhưng vua không nghe lời. Tháng 8 năm Ất Dậu bà ban đạo dụ khác tấn phong Hoàng tử Ưng Kỳ lên làm vua, lấy niên hiệu là Ðồng Khánh; nội dung đạo dụ hoàn toàn đề cao người Pháp và kết tội phe chủ chiến Tôn Thất Thuyết là nghịch thần. (36) Chắc chắn khi làm công việc trên, bà chịu áp lực mạnh của ngọai bang. Tuy nhiên nếu bà là một người có tâm hồn yêu nước, thì sẽ vui lòng cùng vua Hàm Nghi ra chiến khu Tân Sở; hoặc vì già yếu muốn trở về Huế tĩnh dưỡng, thì cũng nên lấy cớ già yếu và lý do phụ nữ Việt Nam không quen can dự vào việc triều đình để từ chối việc hợp tác với Pháp, có như vậy bà mới tránh khỏi vết nhơ trong lịch sử.

Qua những chứng liệu đã trình bày, có thể kết luận rằng Từ Dụ Hoàng thái hậu là mẫu người đàn bà rất say mê việc chính trị, cũng giống như một số phụ nữ lừng danh trong lịch sử các quốc gia khác. Nhưng vì truyền thống dân Việt-Nam thời xưa không mấy thiện cảm với phụ nữ chi phối việc triều đình; nên bà không dám công khai xuất hiện trước sân khấu chính trị. Ðiều đáng buồn là quan điểm chính trị của bà rất cạn hẹp, chỉ cầu sự an toàn cho hai mẹ con ; nên có thể nói vua Tự Ðức đã lầm vào chữ “hoà” của giặc (37), phần lớn do bà ảnh hưởng.

Mời quý bạn độc đón theo dõi phần cuối cùng trong loạt bài Tìm Hiểu Về Con Người Vua Tự Đức và sự ảnh hưởng của người vợ đối với nhà vua trong số 31, chủ đề 1000 Năm Thăng Long, sẽ phát hành vào thượng tuần tháng 2, 2010.

Hồ Bạch Thảo


Mời quý bạn độc đón theo dõi Tìm Hiểu Về Con Người Vua Tự Đức trong phần III và sự ảnh hưởng của người vợ đối với nhà vua trong số 31, phát hành vào thượng tuần tháng 2, 2009.

Tham khảo:
(21) Tự Ðức, Ngự Chế Thi Sơ Tập, Tự Tự, quyển 10, tờ 1a.
(22) Thăng đường nhập thất : học vấn đến bậc cao minh là thăng đường, dò đến chỗ sâu kín là nhập thất.
(23) Tự Ðức, Tự Ðức Thánh Chế Văn Tam Tập, quyển 11, Ngũ Tuần Ðại Khánh yến Phẩm Cẩm Ngọc Biểu, tờ 7 b.
(24) Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện, nhị tập, quyển 2 tờ 5a.
(25) Tư các : gác riêng dành cho Hoàng-tử.
(26) Từ Dụ Hoàng thái hậu Truyện.
(27) Từ Dụ Hoàng thái hậu Truyện.
(28) Nguyễn Khuê, Tâm Sự Tương An Quận vương Qua Thi Ca Của Ông.
(29) Lễ mừng thọ Từ Dụ 60 tuổi.
(30) Tạ Quang Phát, Từ Dụ Hoàng thái hậu, Việt-Nam Khảo Cổ Tập San, số 5, 1968, trang 153-166.
(31) Tâm Trạng Tương An Quận-vương Qua Thi Ca Của Ông, trang 211.
(32) Giáo sư Bửu Cầm cho rằng đó là một cái chết khả nghi, người ta không tin là tội nhân tự tử, nhưng bị giết. (Dẫn bởi “Tâm Trạng Tương An Quận-vương Qua Thi Ca của Ông” trang 314)
(33) Từ Dụ Hoàng-thái-hậu Truyện, trang 53.
(34) Nguyễn Văn Tường : một viên quan Đại-thần nắm trọng trách về ngoại giao thời bấy giờ.
(35) Phan Bội Châu, Việt-Nam Vong Quốc Sử, Tập San Đại Học Văn  Khoa, niên khoá 1959-1960, trang 6.
(36) Từ Dụ Hoàng thái hậu truyện, trang 200.
(37) Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử,  Trang 274 : Vua Tự Ðức than với quần thần về việc viên Đại diện Pháp phản đối sự tăng cường phòng thủ ở cửa bể Thuận An như sau:
“Sở ngôn sở hành của họ như vậy, làm sao mà tin được. Phòng bị là một việc thường của một nước, lẽ nào bắt người ta bó tay đừng làm gì cả mới bằng lòng sao? Hèn chi các tỉnh có phòng bị thì họ đều muốn triệt đi, để trước sau lấy một chữ hòa mà phỉnh gạt ta cho được .”
Nguồn: Thư Quán Bản Thảo tập 36 phát hành tháng 4-2009.
Địa chỉ: POBox 58 South Bound Brook, NJ 08880.
Email: tranhoaithu@verizon.net
(Trích Việt sử: Tư liệu cùng lời bàn, quyển Hạ – Thư Ấn quán Hoa Kỳ xb, 2009)
Nguồn: simplevietnam.com
About these ads