Lạm phát tại Việt Nam: Nguyên nhân vì đâu? – TCPT số 33

Posted on Tháng Tư 29, 2010 bởi

1



Theo dự báo của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, lạm phát tại Việt Nam năm 2010 có thể ở mức hai con số.  Vào năm 2008, tỷ lệ lạm phát trung bình của năm là 22,97%, mức lạm phát ở thực phẩm đã lên đến 40%. Việc Việt Nam chỉ nhắm vào các con số tăng trưởng kinh tế, thâm hụt mậu dịch cao và cơ cấu quản lý yếu kém chính là những nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát tăng vọt trong năm những năm gần đây.

Chạy theo chỉ thị

Do được mệnh danh là “nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN“ nên nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc vào kế hoạch và chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam. Qua chỉ thị của Đảng, trọng tâm của nền kinh tế là các con số tăng trưởng hàng năm. Để đạt chỉ tiêu đã đề ra, nhà nước khuyến khích đầu tư và các doanh nghiệp quốc doanh được tạo điều kiện mượn nợ ngân hàng dễ dàng cho các dự án đầu tư. Ngoài lĩnh vực kinh doanh chính, các doanh nghiệp còn đầu tư vào các lĩnh vực thiếu chuyên môn, đặc biệt vào các lĩnh vực bất động sản hoặc có nhiều rủi ro như cổ phiếu, v.v… Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các doanh nghiệp quốc doanh dùng 60% tiền mượn đầu tư vào các lĩnh vực chuyên môn và 40% đầu tư vào các lĩnh vực mà họ không hiểu biết. Do thiếu trình độ chuyên môn nên các khoảng đầu tư này thường thua lỗ, dẫn đến việc doanh nghiệp không thể hoặc không có khả năng trả được nợ ngân hàng. Theo Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ của tổng số tín dụng “xấu“ hiện nay khoảng 3-4%. Nhưng theo Ngân hàng Thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế ước đoán thì con số này lên đến khoảng 15%. Các chuyên gia quốc tế khác lại cho rằng tỷ lệ tín dụng “xấu“ thậm chí lên tới 20%, nếu ước tính được áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế.

Vì chạy đua với con số tăng trưởng nên nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua tăng trưởng nhờ đầu tư nước ngoài, không phải vì tiêu thụ. Tổng số đầu tư trong năm 2009 tương đương 40% tổng sản lượng quốc gia. Vì nhu cầu vốn đầu tư cao hơn tổng số tiền tiết kiệm trong nước nên chủ nợ đòi hỏi lãi xuất cao, nhiều thông tin cho biết đã có những khế ước vay với lãi suất lên đến 20%/năm trong những tháng đầu năm 2010. Mặt khác, để có được vốn đầu tư đòi hỏi phải nhập dòng vốn từ nước ngoài.

So với các nước láng giềng như Indonesia và Philippines, Việt Nam phải trả lãi xuất cao hơn 1% do cấu trúc kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chánh mang nhiều rủi ro. Trường hợp trên đã dẫn đến lạm phát do lãi xuất tăng cao và doanh nghiệp phải trả tiền lãi cao hơn làm tăng giá sản phẩm. Bên cạnh đó, Việt Nam vây mượn tiền vốn nước ngoài đã thúc đẩy nhu cầu tiền nước ngoài cao hơn tiền nội địa đưa đến áp lực giảm giá trị đồng tiền trong nước và làm tăng trưởng lạm phát.

Những rủi ro nêu trên có thể được điều chỉnh nếu hiệu quả đầu tư cao. Để đo lường hiệu quả đầu tư của một quốc gia, các chuyên gia thường dùng hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio) được tính bằng: tổng số vốn đầu tư chia cho tổng số tăng trưởng GDP. Do cách tính này, tăng trưởng GDP càng cao thì hệ số ICOR càng nhỏ. Năm 2007, Việt Nam có hệ số ICOR là 5,2, năm 2008 là 6,66 và năm 2009 là 8. Những con số vừa nêu là minh chứng hiệu quả đầu tư tại Việt Nam càng ngày càng xấu đi.

Thâm hụt mậu dịch

Năm 2009, Việt Nam xuất cảng 56,6 tỷ USD, 12% thấp hơn năm 2008. Việt Nam chủ yếu xuất cảng quần áo (9 tỉ USD), dầu thô (6,2 tỉ USD),  giầy dép (4,2 tỉ USD), sản phẩm nông, lâm nghiệp và hải sản.

Nhập cảng vào Việt Nam trong năm 2009 tổng cộng là 68,8 tỷ USD, 18% thấp hơn năm 2008. Nguyên nhân chính cho sự sụt giảm làm do nhà máy lọc dầu Dung Quắt đầu tiên tại Việt Nam bắt đầu hoạt động nên Việt Nam chỉ nhập 6,2 tỷ USD xăng dầu thay vì 10,8 tỷ USD vào năm 2008. Những mặt hàng nhập vào Việt Nam nhiều nhất là máy móc và đồ phụ tùng chiếm 12,4 tỉ USD, sắt và thép 5,3 tỉ, tơ sợi 4,2 tỉ, hàng điện tử và computer 3,9 tỉ, Ô-tô 2,9 tỉ.

Nhập cảng nhảy vọt đưa đến người giàu có lợi dụng cơ hội Việt Nam vào WTO đặt mua hàng hóa xa sỉ như máy bay, xe hơi đắt tiền v.v…, thêm vào đó sự yêu chuộng hàng hoá nước ngoài của dân chúng xuất phát từ ý thức vọng ngoại, không tin tưởng vào hàng hoá nội địa. Sau 24 năm “đổi mới“ Việt Nam vẫn không thoát ra khỏi nền kinh tế gia công và nông nghiệp. Việt Nam vẫn lệ thuộc vào xuất khẩu và phải nhập khẩu hàng hoá, máy móc để cho dân chúng tiêu dùng.

Năm 2009, con số thâm hụt mậu dịch là 12,2 tỉ USD. Để có thể chi phí cho thâm hụt mậu dịch, nền kinh tế trong nước đòi hỏi nhu cầu về ngoại tệ và vốn nhập từ nước ngoài, qua đó gây áp lực giảm giá trị đồng tiền nội địa đưa đến việc tăng lãi xuất và lạm phát.

Thâm hụt ngân sách quốc gia

Các khoản thu chính của nhà nước Việt Nam là từ thuế và lệ phí, bán dầu thô, viện trợ và vay nước ngoài.  Cuộc khủng hoảng kinh tế làm nhà nước giảm các khoản thu từ thuế và bán dầu thô, đồng thời nhà nước phải chi phí để kích cầu nên thâm hụt ngân sách quốc gia tăng trưởng từ 1,7% vào năm 2007 lên 4,9% trong năm 2008. Theo ngân hàng phát triển Á Châu, trong năm 2009 Việt Nam thâm hụt ngân sách 10,3%. Quỹ tiền tệ thế giới IMF đề nghị Việt Nam có phải phương án tiết kiệm để hạn chế chỉ còn 6% trong năm 2010.

Để chi phí cho thâm hụt ngân sách quốc gia, nhà nước buộc phải mượn thêm nợ. Nếu nhà nước mượn được nợ của người dân trong nước thì vấn đề tương đối không nghiêm trọng, vì tiền lưu truyền trong nội địa của một nền kinh tế. Trường hợp Việt Nam, nhu cầu vốn cao hơn tổng số tiền tiết kiệm của người dân trong nước nên thâm hụt ngân sách làm nhu cầu vốn càng cao hơn và qua đó nhu cầu muợn vốn từ nước ngoài cũng tăng lên.

Tiền lãi và tiền mượn nợ được trả bằng tiền thuế thu từ nhân dân trong nước. Do số tiền thu thuế có giới hạn, nếu không tăng thuế thì những hoạt động của nhà nước buộc phải thu hẹp (không gian chi tiêu). Nếu tiền lãi không được trả cho chủ nợ hàng năm thì tiền nợ mỗi ngày mỗi cao hơn. Thêm vào đó, tiền nợ trong quá khứ và tiền nợ trong tương lai chồng chất mỗi ngày mỗi cao đã đẩy quốc gia rơi vào vòng luẩn quẩn khó thoát khỏi cơn nợ như hiện nay.

Theo dự đoán của chuyên gia kinh tế quốc tế, năm 2009 Việt Nam mang nợ tổng cộng 47,5% tổng sản lượng quốc gia, trong đó có 25,7 tỉ USD là nợ nước ngoài. Những rủi ro xảy ra trong trường hợp thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài cao là do áp lực giảm giá trị đồng tiền nội địa dẫn đến tăng lãi xuất và tăng lạm phát. Ngoài ra, gây áp lực giảm khả năng tín dụng của quốc gia (rating code) đã làm tăng lãi xuất tín dụng. Các nguyên nhân trên đã làm tăng giá sản phẩm và lạm phát tăng vụt trong những tháng qua.

Tổng kết

Cơn khủng hoảng vào năm 2008 tại Việt Nam không phải do ảnh hưởng toàn cầu mà do quản lý kém và kế hoạch sai. Quản lý kém vì Việt Nam không có một cơ cấu quản lý, hạn chế dòng vốn nhập và xuất. Luồng vốn nhập vào Việt Nam quá cao, làm “hâm nóng“ nền kinh tế do không có công cụ quản lý, hạn chế xuất và nhập luồng vốn từ nước ngoài. Kế hoạch sai vì mục đích của nền kinh tế Việt Nam hiện nay chỉ nhắm vào con số tăng trưởng kinh tế, bỏ mặt việc xây dựng nền kinh tế bền vững và lâu dài.

Đầu tư tại Việt Nam qua hệ số ICOR cho thấy kinh tế Việt Nam không những không đạt hiệu quả mà ngày càng ảm đạm hơn. Giá sản phẩm cao làm tăng lạm phát và số nợ quốc gia, đặc biệt nợ nước ngoài để chi phí cho đầu tư không thể trả được hay không trả được sớm hơn đã gây áp lực giảm giá trị đồng tiền nội địa, giảm tín dụng quốc gia, tăng lãi xuất và tăng lạm phát. Những rủi ro trên đã và sẽ tiếp tục ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn đầu tư tại Việt Nam. Các nhà đầu tư sẽ ồ ạt rút vốn ra khỏi Việt Nam nếu giá trị tiền nội địa có xu hướng giảm nhiều hoặc lâu dài. Trong trường hợp này, một cuộc khủng hoảng tương tự như ở Thái Lan vào năm 1998 sẽ xảy ra tại Việt Nam.

Mặt khác, thâm hụt mậu dịch và thâm hụt ngân sách cũng là nguyên nhân để làm giảm giá trị đồng tiền Việt Nam và làm tăng lạm phát. Nguyên nhân đưa đến những thâm hụt này vì nền kinh tế Việt Nam chỉ được chắp vá chứ chưa được thực sự xây dựng chuẩn mực và nghiêm túc.

Nguyễn Hội
© Tạp chí Thanh Niên PHÍA TRƯỚC

Tải TCPT33 – Sống trong lạm phát

Download TCPT 33 – HD (9MB)
Download TCPT33 – Standard (4MB)
Download TCPT33 – Mini (2.5MB)

About these ads
Posted in: Kinh tế