Tóm lược các đảng phái chính trị Việt Nam – TCPT số 34

Posted on Tháng Sáu 10, 2010 bởi

0



Đảng Lập hiến Đông Dương

Thành lập năm 1923 tại Sài Gòn, do ông Bùi Quang Chiêu đứng đầu. Mục tiêu của Đảng là đấu tranh ôn hòa, giành quyền lợi kinh tế từ Hoa kiều lại cho người Việt, lấy canh tân tích lũy nội lực để đi đến tự do độc lập, cơ quan ngôn luận của Đảng là tờ báo Tribune Indigène. Do không kịp thời hướng đến khối đông người lao động, lại có tư tưởng bài Hoa, đấu tranh thỏa hiệp, đảng viên là công chức lệ thuộc đồng lương chính quyền, báo chí lại bằng tiếng Pháp… nên Đảng Lập hiến Đông Dương đã bị chính quyền khống chế trong khuôn khổ.

Việt Nam Quang phục Hội

Thành lập sau cuộc Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc, trụ sở ở Quảng Châu. Tổng hội là Kỳ ngoại hầu Cường Để, Phan Bội Châu là phó hội kiêm phụ trách miền Trung, Nguyễn Thượng Hiền phụ trách phía Bắc, Nguyễn Thần Hiến phụ trách miền Nam. Hội chủ trương đấu tranh bạo động. Điển hình năm 1924, Phạm Hồng Thái trong vai ký giả đột nhập vào khách sạn Victoria ở Quảng Châu, đặt bom ám sát Toàn quyền Martiatal Henry Merlin, nhưng thất bại. Sau khi tổ chức Tâm Tâm xã ra đời, số lượng hội viên của Việt Nam Quang phục Hội thu hẹp dần. Năm 1925, Phan Bội Châu bị Pháp bắt tại Trung Quốc, hội cũng từ đó giải tán.

Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội

Ra đời năm 1925 tại Quảng Châu, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Tiền thân của hội là tổ chức Tâm Tâm Xã, kêu gọi thợ thuyền, dân cày, binh lính… liên hiệp lại theo chủ trương Quốc tế cộng sản đánh đổ thực dân phong kiến, lập chính quyền mới và xây dựng thế giới đại đồng. Cơ quan ngôn luận là báo Thanh Niên, tài liệu bồi dưỡng chính trị là các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc về sau tập hợp thành tác phẩm “Đường cách mệnh”. Hội tổ chức các lớp huấn luyện đường lối, phát động phong trào “Vô sản hóa” và lập cơ sở hội ở ba kỳ. Năm 1929, hội lập ra tổng bộ gồm sáu ủy viên và dự kiến thành lập Đảng Cộng sản năm sau.

Việt Nam Quốc dân Đảng

Do Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Phó Đức Chính… đứng đầu thành lập năm 1927. Mục tiêu là phát động cách mạng vũ trang đánh đổ thực dân phong kiến, lập ra nước Việt Nam độc lập và theo thể chế cộng hòa. Đầu năm 1929, Đảng đã thu hút hàng nghìn đảng viên từ nhiều thành phần xã hội. Tuy nhiên, cũng ngay từ đầu chính quyền Pháp đã theo dõi nên nhiều đảng viên bị bắt, khởi nghĩa Yên Bái và nhiều nơi bị dập tắt. Nguyễn Thái Học và 12 lãnh đạo cốt cán bị Pháp đưa lên đoạn đầu đài tại pháp trường Yên Bái vào giữa tháng 6-1930. Các đảng viên và cơ sở rút vào bí mật, số khác phải lánh sang Trung Quốc. Sau năm 1954, những cơ sở còn lại ở phía Bắc chuyển vào miền Nam hoạt động.

Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh)

Do Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần đứng ra xin chính quyền Trung Quốc thành lập ở Nam Kinh năm 1936. Cơ quan ngôn luận là báo Việt Thanh. Năm 1940, Biện sự xứ hải ngoại Việt Minh thành lập ở Quế Lâm, Hồ Học Lãm làm chủ nhiệm. Khi Nguyễn Ái Quốc đến đây, nhận thấy tên gọi Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội thiết thực và phù hợp nguyện vọng nhân dân, nên có ý dùng tổ chức này áp dụng cho cách mạng trong nước. Năm 1941, ông về Cao Bằng xây dựng các đoàn thể cứu quốc và tiến tới ra mắt Việt Minh. Việt Minh hoạt động qua nhiều thời kỳ, cho đến khi miền Bắc hoàn toàn do Đảng Cộng sản lãnh đạo sau chiến thắng ở Điện Biên Phủ.

Đại Việt Quốc dân Đảng (Đảng Đại Việt)

Do Trương Tử Anh thành lập tháng 12-1939, lấy quyền lợi dân tộc làm mục đích đấu tranh. Năm 1944, Đảng chủ trương liên kết với Đại Việt Quốc xã, Đại Việt Duy dân, Đại Việt Dân chính Đảng, lập ra Đại Việt Quốc gia Liên minh. Tháng 9-1945, Hồ Chí Minh chỉ đạo Võ Nguyên Giáp ký sắc lệnh giải thể Đại Việt Quốc dân Đảng, nên tổ chức này chống lại Việt Minh. Tháng 12-1945, đại diện Đảng Đại Việt gặp Việt Quốc và Đại Việt Dân chính Đảng lập ra Mặt trận Quốc dân Đảng Việt Nam. Tháng 12-1946, lãnh đạo Đảng là Trương Tử Anh tuyệt tích (có tin cho rằng ông Trương Tử Anh bị bắt và đã bị sát hại ở Phú Thọ cùng lúc với ông Lê Khang, một cán bộ cao cấp của Việt Nam Quốc dân Đảng. Lúc này, Ngô Đình Khôi là anh ruột Ngô Đình Diệm và Phạm Quỳnh cũng bị giết chết. Đến 1954, Đảng tan rã, một bộ phận còn lại chuyển vào miền Nam).

Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (Việt Cách)

Thành lập tháng 10-1942 tại Liễu Châu, Trung Quốc. Lãnh đạo Đảng có Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh. Phía Trung Hoa Dân Quốc cử tướng quân khu là Hầu Chí Minh làm đại biểu chỉ đạo. Tháng 3-1945, Việt Cách được phía Trung Quốc giao chỉ huy “Lữ đoàn hành động” mở đường cho quân Tưởng vào Việt Nam. Tháng 11-1945, cùng với Việt Quốc, Việt Cách tham gia vào Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Sau thời điểm quân Tưởng rút đi, Việt Cách trong nước tan rã.

Đảng Cộng sản Việt Nam

Ra đời sau khi Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội hoạt động và hình thành nhiều tổ chức cộng sản trong nước: Đông Dương Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, An Nam Cộng sản Đảng. Trước tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc đại diện Quốc tế cộng sản triệu tập các đại biểu đến Cửu Long (Hương Cảng) tổ chức hội nghị hợp nhất, sau này lấy ngày 3-2-1930 làm ngày thành lập. Đường lối của Đảng là cách mạng dân quyền, đánh đổ đế quốc phong kiến, tiến lên CNCS. Lực lượng chính của cách mạng là liên minh công – nông. Hai tháng sau khi hợp nhất, Quốc tế cộng sản đã kết nạp tổ chức này vào cuộc đấu tranh vô sản thế giới.

Đảng Xã hội Việt Nam

Thành lập năm 1946, do ông Nguyễn Xiển làm Phó Tổng Thư ký, cũng ra đời từ chủ trương của Việt Minh nhằm tập hợp đoàn kết trí thức yêu nước. Cùng với Đảng Dân Chủ Việt Nam, cả hai đảng phái đều tồn tại và hoạt động song song với Đảng Cộng sản trong thời gian dài, qua nhiều giai đoạn lịch sử dân tộc. Khi trào lưu đa nguyên đa đảng bắt đầu nảy nở ở một số nước cộng sản Đông Âu, với lý do đã kết thúc sứ mạng lịch sử, Đại hội đại biểu Đảng Xã hội họp từ ngày 21 đến ngày 22 tháng 7 năm 1988 đã ra tuyên bố giải thể Đảng.

Đảng Lao Động Việt Nam

Từng là Đảng Cộng sản Việt Nam và được “lập lại” với tên Đảng Lao Động Việt Nam vào năm 1951 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II ở Tuyên Quang. Đại hội này được diễn ra trong lúc diễn ra Chiến tranh Đông Dương lần thứ I. Đại hội này cũng tách bộ phận của Lào và Campuchia (vốn cùng thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương) thành các bộ phận riêng. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, được tổ chức vào năm 1976 sau khi chấm dứt Chiến tranh Việt Nam, tên đảng được đổi lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng Cần Lao Nhân Vị

Từ 1950 Ngô Đình Nhu đã tập hợp một số nhân vật theo chủ nghĩa quốc gia, lập ra nhóm Tinh thần để bàn luận về chính sự. Năm 1953 nhóm Tinh thần chính thức gia nhập chính trường, lấy tên là Công nông Chánh Đảng. Sang đầu năm 1954 thì danh xưng Cần lao Nhân vị Cách mạng ra đời. Đảng Cần Lao Nhân Vị hoạt động tại Việt Nam Cộng hòa từ năm 1954 đến tháng 11 năm 1963 dựa trên chủ thuyết chính trị Nhân vị (Le Personalisme) của triết gia người Pháp Emmanuel Mounier. Năm 1958 Đảng thành lập Đoàn Thanh niên Cách mạng để đào tạo nhân sự thêm sâu rộng và con số đảng viên tăng lên thành 1.500.000 trong vòng bốn năm. Đảng cũng được sự ủng hộ của một số tổ chức như Phong trào Dân chúng Liên hiệp và Hội Cựu chiến binh Cứu quốc.

Đảng Dân chủ

Được thành lập bởi Nguyễn Căn Thiệu vào năm 1967. Nguyễn Văn Thiệu được bầu làm tổng thống, tuyên bố thành lập nền Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam đến tháng 4, 1975.

Đảng Dân chủ Xã hội Việt Nam

Là một chính đảng ra đời vào năm 1946, thường được gọi là Đảng Dân Xã hay Dân Xã Đảng Hòa Hảo, hoạt động tại Nam Kỳ (1946-54) và Việt Nam Cộng hòa (1955-75). Đảng Dân Xã hình thành ngày 21 Tháng Chín năm 1946 do một số tín đồ Phật giáo Hòa Hảo chủ trương. Nguyễn Hoàn Bích được bầu làm tổng bí thư. Sau Hiệp định Genève vào năm 1954, chính phủ Quốc gia Việt Nam do Thủ tướng Ngô Đình Diệm cố sáp nhập lực lượng Hòa Hảo vào quân đội trung ương. Lập trường này dẫn đến rạn nứt giữa khối Hòa Hảo và chính quyền trung ương. Đảng Dân Xã chỉ phục hồi sau khi Đệ nhất Cộng hòa bị lật đổ năm 1963. Nhóm của Pham Bác Cầm giữ tên Đảng Dân Xã nhưng nhóm của Trịnh Quốc Khánh dùng danh xưng Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng. Sang năm 1972 các nhóm này mới thống nhất lại để hoạt động như một chính đảng theo pháp luật hiện hành.

Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam

Thành lập chính thức vào tháng 12, 1960 sau Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam. Mặt trận đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Trung ương cục Miền Nam. Đây là một tổ chức được thành lập theo yêu cầu chiến tranh của Đảng Lao động Việt Nam và những người có lập trường thân cộng sản nhằm tạo vị thế chính trị cho phong trào đấu tranh chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, đồng thời quản lý các vùng đất do họ quản lý có được kể từ sau phong trào đồng khởi. Từ tháng 6, 1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là nòng cốt, cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam đã lập ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để đối chọi với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi hợp nhất lãnh thổ và chính quyền, các đơn vị đoàn thể khác cũng tiếp tục hợp nhất. Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam Mặt trận bắt đầu ngày 31 tháng 1 năm 1977 đã tuyên bố hợp nhất Mặt trận với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Miền Nam Việt Nam thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam

Là một tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng sản Việt Nam, được thành lập sau sự kiện Tết Mậu Thân. Đây là một chủ trương lớn của Đảng Cộng sản nhằm tạo ra một tổ chức “đệm” giữa Mặt Trận Giải phóng Dân tộc và các thế lực khác, gọi là “lực lượng thứ ba”.

Ngày 8 tháng 6 năm 1969, Liên minh kết hợp với MTDTGP thành lập Hội đồng Cố vấn và Chánh phủ Cách mạng lâm thời của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Tham khảo:

  1. Con Đường Việt Nam: http://cdvn.wordpress.com
  2. Wikipedia: http://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_%C4%91%E1%BA%A3ng_ph%C3%A1i_ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B_Vi%E1%BB%87t_Nam
About these ads