Trung Quốc & Việt Nam: Những va chạm từ việc tranh chấp một quần đảo – TCPT số 36

Posted on Tháng Tám 11, 2010 bởi

0



Trong số các tranh chấp địa chính trị, tiếng kêu từ quần đảo Paracels – Hoàng Sa cằn cỗi dường như xa vời trước những xung đột ở Kashmir hay tại dải Gaza. Là đối tượng tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Việt Nam, quần đảo này bao gồm 30 chỏm nhỏ nằm tại Biển Đông, hay biển Nam Trung Quốc theo tên gọi quốc tế. Các hòn đảo này cũng mang những cái tên có ngữ nghĩa xa lạ như Woody Island (đảo Phú Lâm), hay Antelope Reef (Đá Hải Sâm). Những hòn đảo này không có ai sinh sống, cũng chẳng có gì chứng minh có các mỏ tài nguyên nằm dưới những lớp đá và địa chất. Thế nhưng theo các chuyên gia, khi kinh tế khu vực đang phát triển bùng nổ, và khi tinh thần quốc gia trỗi dậy, thì các tranh chấp bỏng rát xung quanh Paracels và Spratlys (quần đảo Trường Sa) nằm ở phía nam – chính là một điểm nóng của một phần địa cầu. Tại đây cán cân quyền lực cũng ngày càng nghiêng về phía Trung Quốc.

Những căng thẳng gần đây nhất là vào đầu tháng 1, khi chính phủ Trung Quốc tuyên bố họ sẽ phát triển một tuyến du lịch cao cấp đến một số các đảo trong quần đảo Paracels Hoàng Sa. Quyết định này nằm trong tham vọng thu hút khách du lịch khắp nơi trên thế giới đến Hải Nam, một tỉnh đảo nằm ở phía nam Trung Hoa lục địa. Khi mà các nhà hoạch định chính sách Trung Hoa đang mơ mộng xây dựng tại đây một Hawai của Trung Quốc – khu vực có những vùng nước sâu trong suốt lý tưởng cho người thích lặn – bản đề xuất của họ bị tuồn ra ngoài và làm Hà Nội dương bộ lông nhím của mình ra tức thì. Trung Quốc thực sự kiểm soát toàn bộ quần đảo này kể từ khi họ nổ súng cưỡng chiếm nó vào năm 1974. Tuy nhiên Việt Nam vẫn bám giữ lập luận chủ quyền lịch sử của mình. Ngày 4 tháng 1 vừa rồi, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nói rằng việc Trung Quốc tiến hành các tuyến du lịch ra Hoàng Sa là xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam. Các quan chức Trung Quốc thì không quan tâm đến lập luận của Hà Nội, và nói rằng đây là vấn đề nằm trong việc phát triển kinh tế nội bộ của Trung Hoa.


Người biểu tình tại Hà Nội phản đối Bắc Kinh tự nhận chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa năm 2007. Ảnh: Frank Zeller / AFP / Getty ImagesCuộc cãi vã trên thật ra chỉ là một chấm nhỏ khi đem so sánh với những xung đột giữa hai quốc gia trong quá khứ – cuộc chiến biên giới đẫm máu vào năm 1979, hay việc chiến thuyền Việt Nam bị đánh chìm cùng với 70 chiến sỹ thủy thủ cùng hy sinh trên boong năm 1988. Thế nhưng nó minh chứng cho việc Trung Quốc ngày càng khẳng định sự hùng mạnh của mình trong khu vực. Ralf Emmers, một chuyên gia nghiên cứu Biển Đông, đồng thời là phó giáo sư tại Trường Quan hệ quốc tế Rajaratnam của Singapore nói rằng chiến thuật du lịch của Trung Quốc là một nước cờ “coi chủ quyền của Trung Quốc tại đây là một việc hiển nhiên đã rồi.


Những người quan sát Việt nam cũng chỉ ra những căng thẳng leo thang kể từ khi chiến thuật đưa tàu ngầm ra đảo Hải Nam (chỉ cách Việt Nam khoảng 200km) của Trung Quốc kết thúc năm 2007. Cơ sở quân sự này cho phép Bắc Kinh triển khai lực lượng không chỉ trên đại lục, mà còn vươn xa hơn đến Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.


Năm ngoái, Trung Quốc đã bắt giữ 25 ngư dân Việt nam gần Hoàng Sa. Những người này chỉ được thả sau những tuần lễ biểu tình phản đối Trung Quốc tại Việt Nam. Quan chức Trung Quốc cũng gây sức ép để các công ty dầu khi đa quốc gia rút khỏi các hợp đồng khai thác với Hà Nội tại Biển Đông.


Sự đau đớn của người Việt Mam bởi Trung Quốc lấn dần đã buộc Hà Nội phải bổ sung lại lực lượng hải quân của mình. Tháng 12 vừa qua, Hà Nội đã trả 2 tỷ đô la để mua lại 6 tàu ngầm hạng nặng của Nga. Chính phủ cũng đã lập chương trình cải tổ lại hệ thống phòng thủ bờ biển nhằm bảo vệ các thuyền đánh cá.

Tuy vậy, khi so sánh với lực lượng và sự hùng hậu của Trung Quốc, còn xa mới có thể coi đây là một cuôc chạy đua vũ trang khu vực. “Vị trí địa lý của Việt Nam là một thiệt thòi rất lớn, nó giống như là một tỉnh trung bình của Trung Quốc”, ông Carl Thayer, một người làm việc về tiềm lực quân sự của Việt nam tại Học việc quốc phòng Australia nói. “Nếu con voi thật sự muốn xông tới, nó sẽ nghiến nát Việt Nam”. Dù thế, một cuộc xung đột mở rộng là không có khả năng, khi xét đến ảnh hưởng của nó đối với thương mại vùng Đông Nam Á. Quan hệ Trung-Việt trên hầu hết các mặt đều chưa bao giờ ổn định như vào thời điểm này.


Tuy nhiên, những nhà quan sát nói rằng chính phủ hai bên vẫn k hông thể thỏa thuận cùng nhau phương thức hòa giải các xung đột lãnh hải. Năm 2002, Trung Quốc đã ký vào một bản quy tắc ứng xử với khối ASEAN mà Việt Nam là thành viên, cam kết không thực hiện các hoạt động gây xáo động trạng thái ổn định mong manh tại Biển Đông. Nhưng hầu như không có bên cam kết nào nhớ được tinh thần của văn bản này là gì. Quần đảo Trường Sa – Spratly là một dãy đảo lớn hơn Hoàng Sa nhiều lần, cũng là đối tượng tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc, Việt nam, Philipin, Malaysia, Brunei và trên danh nghĩa cả Đài Loan. Câu chuyện giống như trong một trò chơi mạo hiểm mà người ta thi nhau chộp lấy các các mẩu đảo, bất kể vị trí, để có thêm lãnh thổ và gây ảnh hưởng trong khu vực. Malaysia đã xây dựng một khu resort cho những người thích lặn tại các bãi đá thuộc chủ quyền của mình, trong khi đó hầu hết các quốc gia khác trong vòng tranh chấp đều cho xây các căn cứ quân sự. “Mô hình ASEAN ngày hôm nay có vẻ như đã hết tác dụng,” Simon Shen, giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Trung Hoa tại Hồng Kông nói. Các bài phát biểu danh nghĩa (của các quốc gia tranh chấp) thì đề xuất cùng hợp tác phát triển (trên các đảo tranh chấp), tuy nhiên việc này trên thực tế là không thể, bởi các xung đột liên quan đến chủ quyền quốc gia.


Đặc biệt tại Trung Quốc và Việt nam, những người ủng hộ chủ nghĩa quốc gia buộc chính phủ của mình phải cứng rắn hơn trên các vấn đề chủ quyền. Cả hai phía đều trưng các bằng chứng chứng minh mối liên hệ giữa các nhóm đảo với các triều đại hiển hách và các quân vương của mình. Tại Hà Nội, vấn đề đặc biệt trở nên trầm trọng khi một nhóm các nhà bất đồng chính kiến – các phật tử và những người phản đối khai thác Bauxite – đã vạch ra tấm màn bí mật của cuộc tranh chấp kéo dài này. Họ buộc tội Đảng Cộng sản đang bán nước cho Trung Quốc với những điều khoản bí mật. “Các nhà lãnh đạo Việt Nam đang đốt một ngọn nến ở cả hai đầu,” ông Carl Thayer nói. “Họ buộc phải cân đối lại tình hình với những người dân trong nước để hy vọng rằng lửa sẽ không bùng cháy từ đầu này trở lại


Cân bằng mong manh của một người làm xiếc trên dây này buộc Hà Nội, cũng như buộc tất cả các chính phủ đòi chủ quyền tại Trường Sa và Hoàng Sa, phải cân nhắc thận trọng các hành động của mình. “Hiểm họa thật sự từ Biển Đông”, ông Emmers nói, “là một tính toán sai lầm có thể dẫn tới những va chạm, rồi kéo theo bùng nổ xung đột quân sự”. Khi chẳng có dấu hiệu gì cho thấy có thể hợp tác thật sự, hầu hết mọi người đều nghĩ rằng việc các bên ngầm củng cố quyền lợi của mình – tính cả việc Trung Quốc sẽ mở rộng hoạt động kinh tế ở Hoàng Sa – sẽ tiếp tục.


Ván cờ này sẽ kết thúc như thế nào khi quân đội Trung Quốc ngày càng vươn dài cánh tay và ảnh hưởng của mình trong những thập kỷ tới? “Đây là một trường hợp quan sát thú vị đối với ảnh hưởng của việc hải quân Trung Quốc phát triển trong tương lai,” ông Emmers nói và nhấn mạnh, không chỉ tại Biển Đông”.


ISHAAN THAROOR, 14/01/2010

Đông A dịch

Nguồn: Time

Tải TCPT số 36  (PDF) – BIÊN GIỚI & LÃNH HẢI VIỆT NAM

Download TCPT36 – Bản HD (12MB)
Download TCPT36 – Bản Standard (5.5MB)
Download TCPT36 – Bản Mini (3MB)

About these ads