Lịch sử đấu tranh và di cư của dân tộc Mông – TCPT số 46

Posted on Tháng Sáu 3, 2011 bởi

4



-Tiểu Phong-

Nhiều người đã từng thắc mắc, tại sao khi nói đến người Mông là nói đến những đỉnh núi quanh năm mây phủ, nói đến hiện tượng chặt phá rừng làm nương, nói đến vấn đề du canh du cư, vấn đề theo đạo trái phép, chuyện “xưng vua” và vấn đề di dân tự do? Trên thực tế, đó không phải là chuyện ngẫu nhiên mà có nguyên nhân sâu xa, bắt nguồn từ lịch sử đau thương đầy máu và nước mắt của dân tộc này. Ngược dòng lịch sử, lần tìm về quá khứ với những gì đã được ghi lại trong sử sách, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về lịch sử đấu tranh và di cư của dân tộc Mông.

Từ Hồ Động Đình…

Lịch sử của người Mông là lịch sử du canh, du cư với các cuộc thiên di lớn xuyên quốc gia. Quá trình thiên di đó là quá trình phải đấu tranh chống lại các thế lực phong kiến, thực dân, giành dật sự tồn tại và phát triển, trong sự áp bức, đè nén của giai cấp thống trị.

Những nghiên cứu về lịch sử, dân tộc học, khảo cổ học đều thống nhất khẳng định vùng Hồ Động Đình (Trung Quốc) là cái nôi của người Mông. Bản thân các cộng đồng người Mông ở khắp miền nam Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, từ Mianma đến Lào, Việt Nam, Thái Lan… cũng đều coi đó là nơi chôn rau cắt rốn của tổ tiên mình.

Nguyên nhân dẫn đến các cuộc thiên di của người Mông xuống các vùng Đông Nam Á bắt nguồn từ chính sách áp bức hà khắc của các triều đại phong kiến Trung Hoa.

Lịch sử Trung Hoa, ngay từ thời Nghiêu (2357 – 2258 TCN) đã có những cuộc chiến tranh giữa người Miêu và người Hoa. Đến thời Chu (thế kỷ IX), trên khu vực người Mông cư trú ở vùng tiếp giáp Giang Tây – Quý Châu – Hồ Nam đã hình thành một nhà nước Sở. Sự kiện ấy đã đánh dấu sự phát triển của cộng đồng người Mông: có lãnh thổ, tiếng nói, có đời sống văn hoá riêng, có ý thức cố thủ ở một vùng hiểm yếu để bảo toàn nòi giống, có lúc hùng mạnh đã cùng người Hán xưng hùng, xưng bá.

Nhưng các triều đại nhà Hán đã đánh tan nước Sở, đẩy người Mông di cư về miền núi non hẻo lánh ở phía Tây nam Quý Châu. Cuộc đấu tranh giành quyền sống của người Mông diễn ra rất khốc liệt trong suốt chiều dài lịch sử của chế độ phong kiến Trung Quốc. Nhưng nỗi đau lớn nhất của người Mông trong lịch sử là càng khởi nghĩa càng thất bại, càng đấu tranh càng thua thiệt, mất mát.

Hoàn cảnh lịch sử đó đã đặt người Mông trước sự lựa chọn: hoặc là chịu đồng hoá của người Hán, hoặc là chống lại sự đồng hoá đó. Người Mông đã chọn con đường không chịu khuất phục, chống lại sự đồng hoá để bảo tồn bản sắc văn hoá. Do thất bại bằng đường đấu tranh vũ lực, họ đã phải di cư đến các vùng đất xa xôi, hẻo lánh, cách xa các thế lực phong kiến để bảo toàn nòi giống; và cung đường thiên di của họ đã diễn ra theo các phương nam và tây nam.

Đến Xiêng Khoảng, Sâm Nưa

Ở Việt Nam, người Mông thiên di thành nhiều đợt, nhưng đông nhất có 3 đợt:

Đợt thứ nhất là vào đời nhà Minh. Lúc ấy, triều đình phong kiến trung ương (Hán tộc) ban hành chính sách “Cải thổ quy lưu” điều người đứng đầu các dòng họ của các tộc người miền biên viễn: người “Di”, người “Địch”, người “Khương” vào triều đình nhưng “hữu chức vô quyền” (người Mông cùng các dân tộc ở phương nam nằm trong nhóm cộng đồng người Di). Đồng thời, cho người Hán đến các miền biên viễn để cai trị và người Mông đã đứng dậy chống lại chính sách này. Nhà Minh đã huy động hơn 60 vạn quân đánh dẹp, người Mông thua phải di cư về phương nam. Trong đó, có hàng trăm gia đình đã di cư vào Đồng Văn, Hà Giang cách đây 14 – 15 đời (khoảng 300 năm).

Đợt thứ hai là vào đời nhà Thanh, trong đó có đạo luật quy định 5 hộ người Mông mới được dùng một con dao mỏng và cấm không được dùng kim khí làm công cụ. Phẫn uất trước chế độ hà khắc của nhà Thanh, người Mông đã nổi lên chống lại từ năm 1786. Cuộc đấu tranh làm trấn động cả một vùng Hoa Nam – Trung Quốc, trung tâm điểm của phong trào là ở tỉnh Quý Châu. Năm 1820, phong trào đấu tranh của người Mông bị chìm trong biển máu, họ phải lánh nạn xuống các nước Đông Nam Á. Tiếp tục hơn 100 gia đình vào Đồng Văn – Hà Giang; và gần 100 gia đình vào Simacai – Lào Cai cách đây 9 – 10 đời (khoảng gần 200 năm).

Đợt thứ ba là vào thời Triều Mãn Thanh (1855 – 1873) do bóc lột nông dân đến cùng cực. Phong trào “Thái bình thiên quốc” của nông dân Trung Quốc nổi lên chống Mãn Thanh va đông đảo người Mông tích cực tham gia phong trào này. Đến năm 1872, phong trào đấu tranh của người Mông bị thất bại, đánh dấu bằng trận Kinh trúc viên, huyện Thạch Thiên, phủ Tuần Nghĩa, tỉnh Quý Châu (Trung Quốc). Đại bộ phận người Mông phải di cư lánh nạn. Đây là đợt di cư lớn nhất của người Mông vào Việt Nam cách đây khoảng hơn 100 năm.

Trên đường di cư từ Trung Quốc vào các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, một số người Mông dừng lại một thời gian, rồi lại tiếp tục sang Lào bằng hai con đường: đại bộ phận đi qua tỉnh Lai Châu vào Xiêng Khoảng; và một bộ phận đi qua Mai Sơn (Sơn La) vào Sâm Nưa.

Những đoàn người Mông trên đây sau khi cư trú ở Lào được khoảng 3 – 4 đời thì lại tiếp tục di cư vào Nghệ An.

Như vậy, lịch sử của người Mông là lịch sử đấu tranh bảo vệ sự trường tồn của dân tộc. Quá trình đó, người Mông không những phải đấu tranh với các thế lực áp bức bóc lột mà còn phải luôn luôn thích nghi với sự thay đổi môi trường và điều kiện sống: từ đồng bằng trung du lên miền núi cao chót vót, từ canh tác lúa nước sang canh tác nương rẫy, dựa vào thiên nhiên. Cuộc sống của người Mông khép kín, cách biệt với xã hội bên ngoài. Hoàn cảnh lịch sử đó làm cho người Mông chỉ tin vào những điều gì thiết thực, cụ thể, lối tư duy duy cảm hình thành và phát triển.

Trên thế giới, không ít dân tộc khi bị xâm lược, áp bức thì bị mất tiếng nói, mất văn hoá truyền thống, bị đồng hoá, thậm chí bị diệt vong. Dân tộc Mông trong quá khứ cũng đã từng đụng độ với các thế lực phong kiến, bị chúng tìm mọi cách tiêu diệt, đánh đuổi, phải di cư liên tục qua các miền núi non, hiểm trở, khắc nghiệt, phải thay đổi cả tập quán canh tác, sinh hoạt, ấy vậy mà họ vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc của mình, không để pha lẫn vào dân tộc khác.

TCPT46 – Tự do sáng tạo nghệ thuật tại Việt Nam
Download TCPT46 – Bản in (7.6MB)
Download TCPT46 – Bản thường (4MB)
Download TCPT46 – Bản mini (2.7MB)

Đọc thêm …

About these ads
Thẻ: ,