Những vô lý trong quan niệm về dạy và học Ngữ Văn hiện nay

Posted on Tháng Tám 16, 2011 bởi

0



Thiên Phúc, TCPT số 48

Có một sự thật không ai muốn thừa nhận nhưng tất cả những thầy cô giáo dạy Văn ở Việt Nam đều ngầm hiểu là học sinh và giới trẻ ngày nay rất chán ngán và coi thường môn văn. Điều đó không phải tại lỗi ở bản thân văn chương hay do người thầy không đủ sức truyền tải cái hay, cái có ích của môn văn đến với người học. Và cũng không đổ lỗi hết cho cái xu thế trong thời kỷ trị, rằng học văn không thực tế, khó vinh thân phì gia. Nhìn vào giáo dục Việt Nam từ sau giải phóng đến nay không biết đã bao nhiêu lần đổi sách, cải tổ chương trình nhưng tình hình vẫn không có gì khả quan. Nguyên nhân là vì đâu? Tác giả cho rằng chính quá trình quan niệm, tổ chức giảng dạy của ta có những cái vô lý đã khiến văn chương bị tầm thường hóa, học sinh không nhìn thấy cái hay cũng như giá trị thực tiễn của việc học văn là gì. Chính vì nền giáo dục coi văn chương là công cụ để tuyên truyền tư tưởng nên việc chọn lựa tác phẩm đưa vào sách giáo khoa bị ràng buộc, cũng như quá trình quan niệm về tác phẩm và định hướng tiếp cận cho học sinh.

1. Coi văn chương là công cụ tuyên truyền tư tưởng giáo điều nặng nề

Những tư tưởng được tuyên truyền là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, truyền thống cách mạng, đạo đức cách mạng, ý thức bảo vệ môi trường… Và do đó các tác phẩm văn chương được lựa chọn phải là thơ Tố Hữu, là Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, Rừng Xà Nu của Nguyễn Trung Thành, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu…là sáng tác của những nhà văn nhà thơ có công lao với cách mạng. Điều đó không sai. Bởi trong một dân tộc, môn văn phải cách trách nhiệm nhất định của nó đối với lý tưởng cộng đồng. Nhưng không được tuyệt đối hóa điều này bởi nó bộc lộ ra một cái khoảng trống rất lớn. Khi chúng ta tuyệt đối hóa về tính giáo dục tư tưởng bó hẹp trong những nội dung như trên thì ta chỉ mới nhìn văn chương ở phương diện xã hội mà không tôn trọng tính học thuật của nó. Tại sao không lựa chọn văn chương theo tiêu chí học thuật nghiêm túc, rằng tác phẩm nào đạt giá trị thẩm mỹ nhân văn cao thì sẽ đưa vào chương trình? Tinh hoa văn chương Việt Nam xét riêng trong thế kỉ XX đã nở rộ nhiều phương diện có cống hiến rất lớn cho đời sống văn học cũng như văn hóa nước nhà, chứ đâu chỉ có các tác phẩm của giai đoạn văn học cách mạng 1946 – 1975, hay giới hạn trong các nhà văn có công với cách mạng, đi theo cách mạng như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nam Cao, Nguyễn Khoa Điềm…

Nói đến nền văn học Việt Nam thế kỉ XX không thể không nhắc đến những tài năng thi ca kiệt xuất trong phong trào Thơ mới không thua kém gì Xuân Diệu, Huy Cận như Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Bích Khê, Quách Tấn. Chúng ta cũng không thể bỏ qua cống hiến to lớn của nhóm Tự Lực Văn Đoàn trong tiến trình hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam, hay công lao thúc đẩy sự hiện đại hóa thơ hiện đại Việt Nam của nhóm Xuân Thu Nhã tập, nhóm Dạ Đài… Mặc cho các nhà phê bình có chuyên môn sâu đã khẳng định giá trị văn chương của những tác giả bị bỏ rơi này, những người trong ban bệ bộ giáo dục không nhìn thấy được tính giáo dục trong các sáng tác đó nên các tác phẩm của họ không bao giờ lựa chọn. Đó là ta còn chưa kể đến những thành tựu xuất sắc, bứt phá của văn học Việt Nam sau Đổi mới. Các nhà văn như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái… đã vượt rất xa các nhà văn tiền bối đi trước, đưa văn chương Việt Nam vào quỹ đạo của văn học thế giới, nêu lên những vấn đề cấp bách của thời đại mới. Đó là nhân tính con người trong sự biến động không ngừng của thời đại, đối thoại với nền văn hóa truyền thống, nhận thức lại về chiến tranh và lịch sử… Rồi hiện tượng văn học tuổi teen Nguyễn Nhật Ánh – nhà văn hiếm hoi của Việt Nam đủ bản lĩnh tạo ra cho mình một lượng độc giả riêng rất lớn, sáng tác của ông luôn chiếm một khoảng không gian không nhỏ trong các nhà sách và đã được một số trường đại học trên thế giới mua bản quyền đưa vào chương trình giảng dạy.

Ý của người viết không phải là kì thị các tác giả được đưa vào sách như Xuân Diệu, Nam Cao, Nguyễn Đình Chiểu. Họ là những tác giả lớn của văn chương nước nhà xứng đáng được đưa vào. Nhưng tôi cho rằng cái tiêu chí lựa chọn của ta quá hẹp hòi, nên đã bỏ qua sự phát triển phong phú nhiều phương diện của đời sống văn học, mà chỉ lựa chọn những tác phẩm đáp ứng một mục đích tốt thượng là giáo dục tư tưởng. Kết quả là học sinh cảm thấy rất khô khan nặng nề, chán ngán.

Trong khi đó, nếu có cái nhìn toàn diện rộng mở hơn về đời sống văn học, ta sẽ lựa chọn đa dạng hơn. Tôi cho rằng bỏ qua các tác giả như Vũ Hoàng Chương, Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Nhật Ánh là điều thiếu sòng phẳng. Bởi họ xứng đáng được đưa vào và tác phẩm của họ hướng đến nhiều vấn đề nhân văn mới mẻ ngoài những bài học tư tưởng giáo điều như các tác phẩm của những tác giả của nền văn chương cách mạng. Chỉ khi học những tác phẩm của họ người học mới có cái nhìn toàn diện, đúng đắn về diện mạo của nền văn học Việt Nam thế kỉ XX. Còn như hiện nay rất dễ dẫn đến một hệ lụy là các em học sinh thường nhầm lẫn nghĩ rằng những tác giả, tác phẩm được đưa vào chương trình là hay nhất. Còn những tác giả không được đưa vào sách giáo khoa thì không hay hoặc biết đâu các em không thấy người ta được đưa vào sách nên nghĩ họ không phải nhà văn.

Ngay cả việc lựa chọn tác phẩm của cùng một tác giả để đưa vào sách cũng chưa thuyết phục. Tác phẩm làm nên tài thơ xuất sắc của thi sĩ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám đâu phải chỉ là Vội vàng. Người ta nhắc đến thi sĩ Xuân Diệu phải là Nguyệt cầm, Lời kĩ nữ, Đây mùa thu tới, Thơ duyên… Cũng vì bài Vội vàng có thể liên hệ giáo dục ý thức sống cho thanh niên theo kiểu tuyên truyền ngày nay nên nó là sự lựa chọn hàng đầu… Sau khi học sinh ngán ngẩm trước sự nhồi nhét tư tưởng xơ cứng, phi văn học đó các em sẽ đi đến kết luận: thì ra văn chương Việt Nam chỉ có như thế, và thi sĩ Xuân Diệu tài hoa cũng chỉ có ngần ấy. Tâm thế coi thường văn chương ở các em là chuyện khó tránh khỏi.

Đành rằng việc lựa chọn tác phẩm của các tác giả vừa đề cập trên còn phải xét đến tính phù hợp của nó với môi trường giáo dục, tuổi học đường, việc lựa chọn tác phẩm nào của họ để đưa vào sẽ còn được xét lại. Nhưng trước hết cần phải khai thông tư duy cũ kĩ ràng buộc bao nhiêu năm nay thì may ra mới tìm lại cảm hứng của học sinh đối với văn chương. Học sinh Việt Nam đã ngán tận cổ những tác phẩm chứa đầy căm thù, giết chóc kiểu như Rừng xà nu. Thời đại của tác phẩm ấy đã qua rồi, chiến tranh đã qua bao nhiêu năm nay rồi. Nhà văn Nguyên Ngọc (Nguyễn Trung Thành) trong một lần trò chuyện với phóng viên báo chí đã rất thẳng thắn cho rằng không nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa. Tác phẩm đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử và nó không còn hợp thời nữa.

Thảm hại hơn nữa là khi cái tư tưởng giáo điều chi phối việc quan niệm và định hướng tiếp nhận tác phẩm cho học sinh. Ví dụ như khi định hướng tiếp cận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (trong tập Thơ điên) của Hàn Mặc Tử, người ta áp đặt cho 2 khổ thơ đầu của bài thơ là thể hiện tình yêu quê hương đất nước. Cứ phân tích thơ là phải nhất định tìm cho ra tình yêu quê hương đất nước. Điều đó cũng tốt nhưng nếu nó là giá trị thực phù hợp với bài thơ. Còn đối với một thi sĩ như Hàn Mặc Tử, cụ thể trong bài Đây thôn Vĩ Dạ, thì điều đó là gượng ép. Nhìn vào các tập hợp sáng tác của Hàn Mặc Tử từ Lệ Thanh thi tập, Gái quê, Thơ điên, Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Quần tiên hội, Chơi giữa mua trăng ta thấy thế giới thơ Hàn đi từ lãng mạn, đến tượng trưng siêu thực. Đó là thế giới của máu, của trăng, của giọt huyết lệ, của những xúc cảm được đẩy lên đến tận cùng bạo liệt. Tình yêu trong thơ Hàn mông lung, giàu chất tượng trưng, thoát khỏi tính cụ thể đời thực để vươn đến trạng thái linh diệu, huyền nhiệm mà thanh thoát, trong ngần. Hàn không bao giờ thể hiện lộ liễu tình yêu quê hương đất nước theo cảm hứng ngợi ca thuần túy.

Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che nghiêng mặt chữ điền

Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay…

Thật ra khi viết bài thơ này Hàn Mặc Tử đang trong thời điểm bệnh tình ngày càng nặng. Cảnh nào có phải là do tác giả quan sát bằng con mắt trần tục mà viết ra, phải đi về Vĩ Dạ để ghi lại. Cảnh ấy chỉ là hồi quang của kí ức, hoặc chỉ là một thế giới biểu tượng từ trong trí tưởng tượng. Trong niềm vui bất chợt, ngắn ngủi, cảnh trong khổ thơ một lóe lên những hình ảnh xinh tươi trong sáng. Rồi khi bỗng tâm hồn đột ngột rơi vào trạng thái hoài nghi bi quan, hình ảnh thiên nhiên trong câu thơ lại trở nên chia li, u buồn khắc khoải. Hà cớ gì cứ phải cho rằng tác giả miêu tả cụ thể hình ảnh vườn tược của Huế, rằng dòng sông ấy nhất thiết phải là sông Hương? Để rồi buộc học sinh phải gượng gạo kết luận rằng bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu xứ Huế mộng mơ, mở rộng ra là tình yêu quê hương đất nước của Hàn Mặc Tử? Cách hiểu đó đánh mất đi cái chất mông lung, mơ hồ vốn là làm nên chất tượng trưng trong thơ Hàn.

Tương tự, người ta cố khai thác cho bằng được những ý tưởng “động trời”, phi văn học mà các phẩm văn chương không hề đảm đương nổi. Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết:

Đánh một trận sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông

Trong một lần thăm dò dư luận, có người đã “dũng cảm” đưa ra cách hiểu sau: hai câu trên nói đến tình trạng các loài chim cá bị tiêu diệt, có nguy cơ tuyệt chủng; đủ thấy, ngay từ thế kỉ XV mà Nguyễn Trãi đã có ý thức phản ánh tình trạng môi trường bị phá hoại; chung quy lại là muốn hướng học sinh đến ý thức bảo vệ môi trường! Rất may là đứng trước đòn phản ứng dữ dội của dư luận, ý tưởng này đã bị xếp vào hàng dự bị. Với tư duy ấu trĩ kiểu này, rất có thể người ta sẽ xét lại nhân vật Thạch Sanh chẳng hạn: anh ta lên rừng kiếm củi, biết đâu bị khép tội là phá hoại rừng!

Chính vì cái quan niệm cố khai thác cho bằng được những bài học giáo điều để tuyên truyền giáo dục tư tưởng, giá trị thực của tác phẩm nhiều khi bị xuyên tạc, khiến nó trở nên xoàng xĩnh, nhảm nhí trong mắt người học.

2. Không chú trọng xây dựng kĩ năng cảm thụ và kĩ năng viết văn, cũng như cá tính sáng tạo của người học.

Biểu hiện rõ nhất cho điều này nằm ở quá trình kiểm tra, đánh giá trong thi cử. Trong chương trình dạy Ngữ Văn sách giáo khoa cũng có những bài hướng đến rèn luyện kĩ năng cảm thụ, kĩ năng viết văn… Nhưng thực chất nó chỉ mới là lý thuyết và không có cơ sở để phát huy tới cùng. Bởi vì chương trình thi cử của ta đã đóng khung trong những tác phẩm đã học, toàn bộ ý nghĩa các tác phẩm đã được định hướng tiếp nhận sẵn, và đề thi ra thì đã có đáp án theo khuôn mẫu. Với việc kiểm tra đánh giá rập khuôn nặng nề này thì làm sao học sinh có cơ hội để phát huy khả năng cảm thụ của mình. Thực chất vẫn là tình trạng giáo viên dạy theo định hướng có sẵn, nhiệm vụ của học sinh là học thuộc và sao chép lại y khuôn những bài học đó. Đây chính là một trong những giới hạn khiến học sinh cảm thấy bị ức chế, vì vừa bị nhồi nhét cảm thụ (dù muốn hay không muốn) và không thể phát huy cá tính sáng tạo riêng của mình một cách đúng nghĩa.

Trong một số đáp án hiện nay cũng có hiện tượng khuyến khích học sinh có những phát hiện hay, nhưng đó chỉ là vài ý tưởng vụn vặt, về cơ bản là học sinh phải học thuộc lòng theo hệ thống đáp án. Đã là văn chương thì không nên có một đáp án rõ ràng nào cả, tùy vào mỗi người có một cảm thụ riêng phù hợp với hiểu biết, trường liên tưởng, quan niệm và năng lực tư duy của mình. Cái cần đánh giá một bài văn của học sinh không hẳn chỉ có ý tưởng, nội dung mà học sinh hiểu từ tác phẩm, mà còn phải xét đến cái cách mà học sinh tiếp cận, khai thác nó, tức là năng lực lĩnh hội văn chương của học sinh. Người có bản lĩnh cảm thụ văn chương đúng nghĩa là người biết cách khai thác cả những tác phẩm mà mình chưa từng được hướng dẫn tiếp cận trước đó. Dĩ nhiên là trong suốt quá trình học anh ta đã được trui rèn kĩ năng cảm thụ. Một nền giáo dục dạy văn mà chương trình thi cử cứ nhai đi nhai lại vài ba tác phẩm trong sách giáo khoa, với hệ thống luận điểm được mớm sẵn từ giáo viên, từ hệ thống các loại sách giải và các lò luyện thi, đoán đề, mò đáp án thì tư duy của học sinh chỉ ngày càng thêm xơ cứng, thụ động, chỉ nô lệ vào định hướng có sẵn. Cuối cùng lại là tình trạng học sinh học thuộc lòng máy móc, học thuộc để thi đối phó, sau đó quên đi vĩnh viễn và cảm thấy ngán ngẫm, chán ghét môn văn. Suốt cuộc đời của những người học môn văn theo kiểu này mãi mãi chỉ viết được những bài văn kiểu học sinh, có khuôn mẫu bài bản mà không hề có một bản lĩnh hùng biện, năng lực cảm thụ và viết lách một cách biến hóa, có cá tính sắc sảo.

Cũng cần nhắc đến một vấn đề khác của cách dạy và học văn hiện nay, đó là viêc yêu cầu học sinh phải học thuộc lòng dẫn chứng tác phẩm tự sự. Bản thân các nhà phê bình văn học cũng luôn phải dựa vào văn bản tác phẩm khi cần trích dẫn một câu văn, đoạn văn nào đó. Thật là vô lý khi bắt học sinh lại học thuộc lòng các câu văn trong truyện ngắn, tiểu thuyết. Học thuộc để làm gì? Nó có giá trị thực tiễn lâu dài gì cho cuộc sống các em sau này? Học sinh chỉ cố học thuộc lòng để đối phó trong thi cử. Cái quan trọng là học sinh thâm nhập vào thế giới hình tượng tác phẩm như thế nào, phát huy trí tưởng tượng, trường liên tưởng, tư duy trừu tượng và sự rung cảm trước một tác phẩm văn học ra sao. Đúng là có những tác phẩm hay, người đọc tâm đắc có thể sẽ thuộc nhiều câu văn đắc địa nào đó của tác phẩm, nhưng đó không thể là điều ép buộc. Trước một tác phẩm truyện ngắn, hay trích đoạn tiểu thuyết thì đề thi là biến hóa nhiều hướng khác nhau, làm sao học sinh có thể học thuộc hết tất cả các câu văn dẫn chứng đáp án cho mọi đề? Nếu như những độc giả lý tưởng của văn chương bắt buộc phải là những người đọc và thuộc lòng tác phẩm thì có lẽ kể cả các nhà văn cũng không phải là độc giả của chính mình. Đối với tác phẩm truyện ngắn hay tiểu thuyết, yêu cầu cơ bản, cần thiết là người đọc có thể khái quát lại cốt truyện là đủ.

Chính yêu cầu vô lý của chương trình giáo dục hiện nay làm cho quá trình học văn trở nên nặng nề. Đầu óc của học sinh chỉ lan man lo học thuộc lòng các câu văn dẫn chứng máy móc. Đó chính là rào cản tư duy tầng sâu và năng lực tưởng tượng của học sinh. Một khi cảm thấy nặng nề, ức chế, các em sẽ đi đến phản ứng chán ghét và coi thường môn học. Và điều này không phải lỗi của các em.

Mong rằng trong dự định cải tổ sách giáo khoa vào năm 2015 tới đây, những điều này sẽ được…  cân nhắc khắc phục.

T.P.
© 2011 Tạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚC

TCPT48 – GIÁO DỤC HAY GIÁO ĐIỀU?
Download TCPT48 – Bản in (5.9MB)

Download TCPT48 – Bản thường (3.2MB)
Download TCPT48 – Bản mini (2.2MB)

About these ads