Không nên lạm dụng phương pháp trực quan trong dạy Văn

Posted on Tháng Tám 26, 2011 bởi

0



Linh Sơn, TCPT số 48

Trong vài năm trở lại đây, dùng trực quan trong dạy học là một trong những phương pháp được khuyến khích vận dụng rất phổ biến. Người ta xem nó và dạy học hợp tác (cho học sinh thảo luận nhóm) là hai phương pháp dạy học tiên tiến không thể thiếu trong nghiệp vụ sư phạm. Đến nỗi, một tiết dạy của giáo viên hay sinh viên thực tập sẽ không bao giờ được coi là dạy tốt nếu thiếu sử dụng trực quan (cũng như thảo luận nhóm). Dĩ nhiên đây là một phương pháp dạy học hay nên vận dụng. Trên thực tế nhiều người đã quá cực đoan “sùng bái” nó. Sử dụng phương pháp như thế nào cho phù hợp với đặc trưng từng môn học, từng bài học để phát huy hiệu quả lại là một vấn đề mà thực tiễn dạy và học đưa ra những phản hồi, không phải chỉ đem lí thuyết suông ra là thỏa mãn hết thảy. Ở đây tôi giới hạn trong phạm vi dạy môn Ngữ Văn để xét lại vấn đề.

Nếu đó là một tiết dạy về nội tạng cơ thể người, yêu cầu bắt buộc là cả giáo viên lẫn học sinh cần phải có hình vẽ để quan sát. Lúc này dùng hình ảnh trực quan là một phương pháp không thể thiếu. Nhưng nếu là tiết dạy về bài thơ Đường Hoàng hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lí Bạch thì có cần phải dùng trực quan? Dạy Văn khác với dạy Sinh. Do đó cũng không có nguyên lí dạy học nào quán xuyến hết cho từng môn học bắt chúng quy đồng một mẫu số duy nhất. Không có bức tranh về lầu Hoàng Hạc hay dòng sông Trường Giang cũng không ảnh hưởng gì đến hiệu quả tiết dạy. Mà nếu có các loại hình ảnh đó thì chắc gì nó đã phát huy tác dụng? Thơ ca vốn là chuyện của tình cảm, tâm tư. Cảnh được gợi trong thơ chỉ là cái điểm chấm phá rất nhỏ để mở ra cả một vũ trụ tâm hồn con người đầy mông lung, biến ảo. Cái buồn, cái cô đơn, cái luyến tiếc, cái hoài vọng khắc khoải của Lí Bạch thì lấy tranh gì minh họa? Học thơ mà cái gì cũng đòi truy tìm ra hình hài hiện thực rõ ràng, mắt thấy, tay sờ được thì coi chừng nhầm lẫn với Lịch sử hay Báo chí!

Khi đọc bài thơ có người hình dung Lí Bạch đang đứng một mình trông theo cánh buồm khuất dần trong sóng nước Trường Giang. Và thế là anh ta sẽ họa ra ngay một bức tranh miêu tả hình ảnh thi nhân đứng cô đơn bên bờ sông, đôi mắt xa xăm hướng về phương bạn… Nhưng có người lại hiểu khác: chẳng có hiện thực nào sất. Tất cả chỉ là tâm tưởng tác giả hoài vọng lại mà chưng cất thành thơ, cánh buồm lẻ loi (cô phàm), hay dòng Trường Giang chỉ là những bóng hình ẩn hiện trong kí ức.

Nói theo cách của Tố Hữu, thơ là dùng “hồn đồng điệu” để cảm, lúc này cách hiểu đầu chưa chắc đã hay. Đành rằng văn chương thì đa nghĩa, tùy vào cách hiểu của mỗi người, nhưng cũng phải hiểu như thế nào cho đúng bản chất của nó. Đối với đầu óc của học sinh phổ thông, nếu dùng một bức tranh miêu tả hiện thực rành rành như cách hiểu thứ nhất ắt gây ra hệ lụy. Các em sẽ bị hạn chế cảm xúc (thay gì phải tự thân thâm nhập) và lười biếng tưởng tượng. Rất có thể một lớp học, trong tâm thức của 45 em học sinh đều bị ấn định một hình ảnh minh họa bài thơ chết dí một sắc thái nào đó mà bức tranh đã tả. Lúc này trực quan hiện thực sẽ giết chết cảm xúc và tư duy hình tượng. Mà cái tác dụng của những bức tranh trong tình huống này cùng lắm chỉ là tô điểm “hoa lá cành” chứ không có ý nghĩa tích cực gì nhiều.

Tương tự vậy, đem bức tranh vẽ cây chuối làm trực quan khi dạy bài thơ Ba tiêu của Nguyễn Trãi thì cũng chẳng đạt hiệu quả gì. Ngẫm lại thấy nó ngây thơ, buồn cười. Do đó, cách hiểu đúng với bản chất của thơ ca là cách hiểu thứ hai. Tất cả cảnh và tình chỉ nằm trong tâm tưởng. Nó phảng phất gợi ra hình hài (cô phàm, trường giang) mà lại biến hóa mơ hồ, nó tác động vào tâm thức con người chứ không phải lồ lộ ra trước mắt. Và do đó mỗi học sinh, nếu thật sự nhập tâm sẽ chiếm lĩnh cho mình những trạng thái cảm xúc không đồng nhất với nhau. Ở tình huống này, tranh ảnh trực quan là thứ đem kết quả ngược lại.

Thêm nữa, nếu là một tác phẩm truyện ngắn hay bài dạy về ngữ pháp, chúng ta có thể dùng trực quan ở dạng sơ đồ, bảng biểu nhằm hệ thống hóa kiến thức. Điều này là hợp lí. Song, trong trường hợp dạy thơ, nếu sử dụng không tinh tế sẽ dẫn đến sơ đồ hóa một tác phẩm trữ tình làm cho nó trở nên thô thiển, xơ cứng. Vả lại, chúng ta còn phải xét đến kiến thức trung tâm của bài học để xác định trực quan cho đúng hướng, nếu cứ ơm đờm nhất thiết phải sơ đồ, hình ảnh cho một bài học mà nội dung của trực quan đó chỉ là những chi tiết ngoài rìa thì đôi khi nó dẫn đến tình trạng phân tán tập trung của học sinh.

Dạy tác phẩm thơ ca, nhất là thơ cổ, dùng trực quan không khéo sẽ vi phạm tính đa nghĩa, mông lung của đặc trưng thể loại. Một khi đầu óc học sinh bị định khung bởi một công thức hiện thực trực quan nào đó thì nó là rào cản của cảm xúc tầng sâu và tư duy hình tượng. Trong trường hợp này, người giáo viên khéo léo là người biết tránh đi những nguy cơ. Vậy dùng trực quan là không hẳn đã cần thiết.

Ngữ Văn chia ra làm nhiều bộ phận, trong đó có thơ, truyện, ngôn ngữ, làm văn. Không phải loại bài nào cũng thích hợp với việc dùng trực quan. Ở trên chỉ là phân tích một ví dụ cụ thể, nhưng rõ ràng ta có thể khái quát lên rằng: trong dạy Văn cần phải được dùng trực quan một cách dè dặt. Phải thật sự am hiểu bản chất vấn đề bài học mới cân nhắc có nên sử dụng phương pháp này hay không. Đối với môn Ngữ Văn, trực quan là phương pháp bổ trợ, có thể sử dụng hoặc không. Lạm dụng trực quan sẽ gây phản tác dụng.

Không thể lấy việc điểm danh sự hiện diện của nó trong tiết dạy để làm một trong những tiêu chí quyết định trình độ, năng lực vận dụng phương pháp dạy học của những thầy cô Ngữ Văn. Phẩm chất của văn chương không rạch ròi như những môn khác với tư cách đơn thuần là khoa học. Văn chương còn gắng liền với nghệ thuật. Do đó trong hệ nguyên lí chung về các phương pháp dạy học, đối với môn Văn phải có sự cân đo, tôn trọng đặc trưng loại thể của nó. Trong tiết dạy môn Sinh, trực quan là một phương pháp triển vọng không thể thiếu thì đối với văn chương nó có vẻ “nguy hiểm”. Chỉ nên dùng trực quan đối với các loại bài về ngôn ngữ. Còn với những tác phẩm văn chương, nhất là thơ, thì không nên lạm dụng phương pháp trực quan – thậm chí là không cần dùng đến.

Một giáo viên có bản lĩnh thì không bao giờ nô lệ vào phương pháp, mà luôn biết linh hoạt làm chủ nó trong từng tình huống cụ thể. Mong rằng các thầy cô dạy Văn sẽ không chạy theo cái mốt mô hình kiểu mặt trận dàn đều, rằng tiết dạy phải có đủ “bộ sưu tập” các phương pháp, đủ hoa lá cành, để rồi biến tiết dạy thành một show trình diễn giữa những người trong nghề với nhau (mà không biết nó có thật sự ích lợi gì cho học trò của mình hay không)!

L.S.
© 2011 Tạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚC

TCPT48 – GIÁO DỤC HAY GIÁO ĐIỀU?
Download TCPT48 – Bản in (5.9MB)

Download TCPT48 – Bản thường (3.2MB)
Download TCPT48 – Bản mini (2.2MB)

About these ads