Tìm Hiểu Về Con Người Vua Tự Đức – TCPT số 32

Posted on Tháng Ba 24, 2010 bởi

0



Phần cuối

Tiếp theo bài Tìm Hiểu Về Con Người Vua Tự Đức của tác giả Hồ Bạch Thảo trong số 29 và 30, Tạp Chí Thanh Niên PHÍA TRƯỚC tiếp tục gởi đến quý bạn đọc phần cuối trong loạt bài về Vua Tự Đức và sự ảnh hưởng của người vợ trong việc điều hành đất nước.

C . Ảnh hưởng của vợ đối với vua Tự Ðức

Xét về Tự Ðức, ta thấy ở nhà vua tình mẫu tử phong phú đặm đà bao nhiêu, thì tình vợ chồng lại càng nghèo nàn nhạt nhẽo bấy nhiêu . Phải chăng con người ta được dồi dào về phương diện này, thì phải chịu khiếm khuyết về phương diện khác ; hay vì khiếm khuyết ở chổ này, nên phải tìm nguồn an ủi ở chổ khác?

Sở dĩ chúng tôi đặt vấn đề như trên, vì có dư luận cho rằng vua Tự Ðức bị bất lực về cuộc sống vợ chồng. Ðiều nghi vấn này khó có thể giải đáp được một cách trọn vẹn, vì đây là bí mật chốn phòng the, sử sách không bao giờ dám đề cập tới. Tuy nhiên qua đạo dụ ra lệnh cho dân chúng và quan lại ai có phương thuật tài năng được phép tự tiến cử, nhà vua hé cho ta thấy một chút bí mật về việc không con nối dõi của ngài:

“Mỗi nghĩ đến thương mến sâu xa của đức Hoàng khảo (38), và lòng nhân từ phúc hậu của đức Thánh mẫu (38) nên ta muốn hưởng thú vui có con, để khỏi thẹn với công ơn hai thân; song đến già rồi cũng chỉ buồn lo thì biết làm sao? Muôn đời sau biết nói sao đây! Vậy chẳng thà chịu trăm lần lừa dối, để mong một lần công hiệu. Cầu cái không thể được chỉ muốn làm hết sức người để trời rũ lòng thương, và mong được cái không thể cầu là muốn trời chưa nỡ tuyệt lòng người vậy.

Qua đọan văn vừa trình bày, khiến người đọc không khỏi ngạc nhiên ở hai nhóm chữ cầu cái không thể được (求 其 不 可 得 cầu kỳ bất khả đắc) và được cái không thể cầu (得 其 不 可 求 đắc kỳ bất khả cầu). Thiết tưởng đối với một người đàn ông lành mạnh thì việc có con cái là lẽ thông thường ; tục ngữ há chẳng bảo rằng:

Cả sông đông chợ,
Lắm vợ nhiều con
.

Về vợ, nhà vua có cả tam cung lục viện nên có rất nhiều điều kiện để có con; cớ sao phải than cầu cái không thể được và mong được cái không thể cầu? Suy nghĩ thêm về câu văn bóng gió này, có thể hiểu được là nhà vua đã biết rằng mình không thể có con, hay nói một cách rõ hơn cuộc sống vợ chồng của nhà vua có điều trục trặc bất thường.

Nếu xét thêm về cách cư xử của nhà vua đối với bà vợ chính Lệ Thiên Anh Hoàng hậu, lại tìm thấy sự bất thường khác. Lệ Thiên Anh Hoàng hậu là con gái quan Ngự Tiền Đại-thần Vũ Xuân Cẩn. Bà nhập cung năm Thiệu Trị thứ ba (1843) và được phong đến chức Quí phi, đứng đầu sáu cung . Nhưng đến năm Tự Ðức thứ 35 (1882) tức là sau 39 năm kết nghĩa vợ chồng, bà bị khiển trách và giáng xuống Trung phi qua đạo dụ như sau:

“Hoàng Quí phi họ Vũ gắn bó với Trẫm đã lâu, niên kỷ cũng đến tuổi giai lão . Trẫm đãi rất hậu, mới phong đến bậc nhất trong hàng cung giai để coi sóc sáu cung, đôn đốc kính cẩn siêng năng cho yên lòng Trẫm, thật là vinh hạnh thay.

Tưởng rằng tuổi càng cao, thì đức càng sáng để xứng với ân mệnh. Không ngờ từ đó tới nay, mảy may không lưu ý, siêng nhác mặc người, không hề răn dạy, phàm công việc không khỏi gây phiền, thực cô phụ chức phận; đó là tự mình lười biếng thì đâu còn đốc suất được người. Song Trẫm thường khoan dung, không nỡ nặng lời quở trách.

Từ khi Trẫm bị bệnh nặng tới nay; đáng lẽ phải chăm chỉ lo lắng gấp bội, luôn luôn đứng ngồi hầu hạ bên giường và cho Trẫm ăn uống đầy đủ thích nghi, mới xứng với địa vị cao cả và đạo vợ chồng. Cớ sao môt niềm trễ nãi, lại không thấy chút tình ưu ái. Ðến nỗi việc dâng cơm nước thường ngày cũng cố ý trì trệ, no đói thất thường; vậy thì sự phụng dưỡng ở đâu và thuốc thang nào còn bổ ích ? Ðạo vợ chồng lấy điều thuận làm chánh, chủ quỹ (39) làm đầu tất phải sớm tối siêng năng điều dưỡng không khuyết, thế mà còn lo chưa an tâm, chưa xứng vị; huống hồ chậm trễ bất kính thì tình nghĩa chức phận ở chỗ nào?

Gia dĩ cậy thế được yêu, mỗi lần quở phạt sắc mặt tỏ vẻ ta oán, tiêu pha xa xỉ lại còn dám nài nĩ mong ân. Sao không nghĩ lộc vị hưởng đến như vậy là hơn người bội phần, có gì thiếu nữa đâu mà còn đòi hỏi không chán . Nếu như kẻ khác bắt chước theo thì tội ai gánh . Lỗi ngươi dồn dập quá nhiều sao chưa mảy may sửa đổi?

Ôi! Pháp luật là chung cho mọi người, có tề gia mới mong trị quốc, ví phỏng cứ như lệ cũ mỗi mỗi dung tha, thì kẻ không hiểu biết sẽ thỏa theo điều trái; lấy điều may được tha thứ cho là đắc ý, không một chút sợ mà sửa đổi, như thế đâu phải là đạo thành toàn. Bởi vậy phải trừng phạt một kẻ để cảnh giác hàng trăm, có thấy hình phạt thì mới biết ơn. Vậy giáng Hoàng Quí phi họ Vũ xuống làm Trung phi song vẫn giữ nguyên chức và cai quản thượng nghi, không cần thay thế để tránh lạm dụng ; khiến cho ngươi nhìn lại danh nghĩa, sửa lỗi đổi mới, may được đẹp đẽ về sau, đó là ân nghĩa trọn vẹn .

Nhược bằng cứ như tật cũ, không chịu sửa mình thì chỉ là cây gỗ mục không thể chạm khắc được, còn kể làm gì ! Ngươi phải kính sợ! Trẫm không nói lần thứ hai.

Kính đấy!

Ngày 24 tháng 12 nåm Tự Đức thứ 35 (40).

Ðạo dụ vừa trình bày cho ta những  nhận xét sau đây: Lệ Thiên Anh Hoàng hậu là bà vợ chính của Tự Ðức, khi bị giáng trách thì bà đã có gần 40 năm chung sống với nhà vua, và cả hai đều trên năm mươi tuổi. Thế mà chỉ vì lỗi lầm không mấy nặng nề bà bị giáng xuống Trung phi ; đó là một điều nhục

nhã cho bà và cûng là điều đáng đặt câu hỏi về vua Tự Ðức . Có phải đây là một cơn thịnh nộ nhất thời như chính sử chép chăng? (41) Quyết không phải! Vì không ai giận vợ với một lý do đơn giän là dọn cơm trễ, lại có đủ kiên nhẫn ngồi viết một bài văn trách phạt dài hơn 400 chữ, bố cục đã chặt chẽ, lời lẽ lại đanh thép! Vậy ở đây chỉ có thể là một cơn ba đào mãnh liệt được nhen nhúm bởi những đợt sóng ngầm trước đó. Những đợt sóng ngầm là những chuỗi ngày buồn bả nhạt nhẽo của cặp vợ chồng không con, trục trặc trong việc ái ân chăn gối, “nét mặt ta oán” ghi trong đạo dụ, được hiểu thay cho những tiếng thở dài não nuột của người đàn bà sống những chuỗi ngày lê thê trong chốn thâm cung, không phải bị thất sủng, mà ở vào hoàn cảnh ” Tuy trong gang tấc, mà ngoài quan san“.

Nếu là người tin số Tử Vi có thể bảo rằng cung tử tức và thê thiếp của nhà vua rất xấu . Lệ Thiên Anh Hoàng hậu đã không đem lại hạnh phúc cho vua, mà cả bà Học phi vợ khác của Tự Ðức cũng bị đồn rằng có tư tình với viên Đại thần Nguyễn văn Tường (42).

Tất cả những điều đã tìm hiểu, có thể giúp cho việc đính chính bài thơ nỗi tiếng “Khóc Thị Bằng” chép dưới đây; có thuyết  gán cho Tự Ðức là tác giả:

Khóc Thị Bằng

Ớ Thị Bằng ơi đã mất rồi!
Ớ tình ớ nghĩa ớ duyên ôi.
Mưa hè nắng chái oanh ăn nói,
Sớm ngỏ trưa sân liễu đứng ngồi.

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại để dành hơi.
Mối tình muốn dứt càng thêm bận,
Mãi mãi đeo hoài cứ chẳng thôi.

Thực vậy, xuyên qua cuộc sống lứa đôi, Tự Ðức không phải là mẩu người đam mê về tình ái. Ảnh hưởng của vợ đối với Tự Ðức thật không đáng kể ; hoặc nếu có chăng thì vấn đề vợ con chỉ là một sự khổ lụy cho nhà vua mà thôi.

***

Làm vua không phải là một công việc dễ dàng, trong lịch sử đã có những người tự xét khả năng mình không thể gánh vác được, nên đã từ chối; có những bậc cha mẹ khóc lóc năn nĩ, lấy cớ con mình tài hèn phúc bạc xin đừng đưa lên làm vua.

Qua sự tìm hiểu về con người vua Tự Ðức về các khía cạnh: thể chất, tính tình, học vấn, cha mẹ, người phối ngẩu; người nghiên cứu có thể mạnh dạn nói rằng nếu lúc trẻ Hồng Nhậm (tên húy của Tự Đức) được tham dự một cuộc trắc nghiệm về hướng nghiệp, thì kết qủa cho biết rằng làm vua không phải là nghề tốt cho chàng và bản thân Hồng Nhậm cûng không có tham vọng đó. Nếu được dành trọn đời vào công việc sáng tác thì rất thích hợp, và sự nghiệp văn chương của Hồng Nhậm sẽ rạng rỡ chẳng kém gì các vị chú ruột như  Tùng thiện vương Miên Thẩm hoặc Tuy lý vương Miên Trinh.

Ðiều đáng buồn cho Hồng Nhậm và cho lịch sử nước ta là Từ Dụ Hoàng thái hậu có chủ ý khác. Với tham vọng của một ngừơi mẹ, bà quyết dành cho con trai chức vụ quí báu nhất đời, đó là ngôi vua. Đâu có ngờ rằng 36 năm làm vua của Tự Ðức là 36 năm đau khổ, vì không đối phó nổi với thời cuộc, và cuối cùng đành phải chịu tội trước lịch sử làm một ông vua gây nên cảnh vong quốc!

Hồ Bạch Thảo

CHÚ THÍCH

(38) Xưng cha vua đã mất là Hoàng khảo, mẹ vua là Thánh mẫu.

(39) Chủ quỹ tức là người vợ chính, thường nắm ngân quỹ trong gia đình.

(40) Tự Ðức, Tự Ðức Thánh Chế Văn Tam Tập, quyển 9, tờ 11b, 12a, 12b,13a.

(41) Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện, tập 2, quyển 4, tờ 3a, 3b ghi như sau: Mùa đông tháng chạp năm Tự Ðức thứ 35 giáng làm Trung phi. Lúc đó công vụ đa đoan, vua làm việc quên ăn nên kém sức khỏe, phải dùng thuốc. Bọn cung nhân dâng cơm chậm trễ, làm trái ý vua nên Hoàng hậu bị giáng xuống làm Trung phi.

(42) Phan Khoang, sách đã dẫn, trang 335: có người nói bà Học phi Nguyễn thị (vợ vua Tự Ðức) mẹ nuôi vua Kiến Phúc có tư tình với Nguyễn Văn Tường. Một hôm vua Kiến Phúc đau, Tường vào thăm và trò chuyện với bà. Vua nghe được và có hăm dọa; Tường thấy thế nguy, bèn xuống Thái y viện bốc một thang thuốc để dâng vua uống, ngày hôm sau thì vua băng.

(Trích Việt sử: Tư liệu cùng lời bàn, quyển Hạ – Thư Ấn quán Hoa Kỳ xb, 2009)


Nguồn:
Thư Quán Bản Thảo tập 36 phát hành tháng 4-2009.
Địa chỉ: POBox 58 South Bound Brook, NJ 08880
Email: tranhoaithu@verizon.net

©Tạp Chí Thanh Niên PHÍA TRƯỚC


Download TCPT32 – TỰ HÀO VIỆT NAM

Bản chất lượng cao (HD – 8.5MB)
Bản Thường
(Standard – 4MB)
Bản Mini
(2.5MB)