Ảnh hưởng của Tết – TCPT số 33

Posted on Tháng Năm 14, 2010 bởi

0



Những quan ngại về một nên kinh tế quá nóng trở lại

Trong suốt dịp Tết âm lịch, ở Việt nam tràn ngập tiền. Tiền mừng tuổi cho trẻ con, tiền rót vào các chiếu bạc ven đường, tiền mua quà tặng và tổ chức tiệc tùng, tiền về quê thăm biếu. Hệ lụy chính của dư tiền là sự bùng nổ lạm phát. Năm nay, chỉ số giá tiêu dùng tăng đỉnh điểm vào tháng 2 ở mức 2%. Con số này dường như vẫn còn chấp nhận được nhờ vào mức tăng trưởng kinh tế nhanh hiện tại. GDP cả năm tăng 5,3% so với năm ngoái. Tuy nhiên, nó vẫn để lại nhưng dấu hiệu rất đáng quan ngại.

Vào ngày 10 tháng 2 trước Tết, ngân hàng trung ương đã hạ giá tiền đồng Việt nam 3,4 % ngay sau một đợt phá giá 5,4% vào tháng 11 trước đó. Mục đích chính là để kích thích những người đang giữ đôla bán ra để mua Đồng Việt Nam. Đôla khan hiếm đã trói chân những nhà xuất khẩu Việt Nam rất nhiều, vì họ cần nhập khẩu nhiều máy móc và nguyên vật liệu bằng ngoại tệ.

Chính phủ đổ lỗi việc khan hiếm đôla do nhiều người găm giữ đồng đôla trong nhà (hoarding), tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu chính là do những khoản chi kích thích kinh tế của chính phủ. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế «ngọt ngào» đang phải trả giá. Nhiều người cho rằng chính phủ đã bỏ ra 1 tỷ đôla (khoảng 1% GDP) vào năm 2009 để vực dậy nền kinh tế, chủ yếu là để trợ vốn các ngân hàng nhằm cấp tín dụng cho doanh nghiệp. Kết quả là cung tín dụng tăng 37%, kéo theo việc tăng giá đôla ngoài chợ đen.

Trong khi đó, tỷ giá hối đoái USD/VND bị duy trì cao một cách giả tạo, kết quả cán cân thương mại bị thâm hụt nghiêm trọng dẫn đến dự trữ ngoại hối quốc gia sụt giảm mạnh. Chính phủ đã buộc phải tăng giá một số hàng hóa được các doanh nghiệp nhà nước kiểm soát: giá xăng dầu, giá điện, giá than. Tất cả những nhà quan sát đều nghi ngờ rằng lạm phát sẽ lại quay trở lại như vào đầu năm 2008.

1Đóng khung 1:

Gói kích thích kinh tế của chính phủ làm tăng cung tín dụng, tức là cung tiền. Phần dư cung tiền làm gia tăng lạm phát, và kết quả là giá đôla càng tăng cao trên những thị trường không chính thức. Việc tăng giá này không phải là do nhu cầu thật gây ra, mà là do tiền đồng Việt Nam bị thừa mứa. Kết quả là khi các doanh nghiệp xuất khẩu, họ thu về đồng Việt Nam có mệnh giá thấp. Khi nhập khẩu, doanh nghiệp phải trả bằng đồng đôla có mệnh giá cao dẫn đến cán cân thương mại  bị thâm hụt. Các doanh nghiệp nhà nước buộc phải tăng giá các mặt hàng của mình để bù đắp khoản thâm hụt này.

2Đóng khung 2:

Phá giá tiền không làm thay đổi nguồn cung tiền và không nhất thiết gây ra lạm phát, khi cung và cầu ngoại tệ đặt cân bằng. Khi đồng nội tệ bị phá giá, cán cân thương mại sẽ bị thâm hụt trong ngắn hạn vì nhập khẩu sẽ đắt hơn tương đối so với xuất khẩu. Tuy nhiên ở trung và dài hạn, xuất khẩu thu lợi, trong khi giá hàng nhập khẩu tăng sẽ hạn chế nhập khẩu. Thâm hụt thương mại sẽ tự được cân đối, trong khi cung ngoại tệ sẽ tăng.

Chính sách phá giá sẽ không đem lại hiệu quả nếu cơ cấu xuất nhập khẩu không làm thay đổi nhu cầu sử dụng ngoại tệ. Trường hợp thứ nhất, đặc biệt là các doanh nghiệp quốc doanh sử dụng không hiệu quả nguồn vốn, tiếp tục nhập khẩu dẫn đến đẩy mạnh dòng chảy ngoại hối ra nước ngoài mua hàng. Trường hợp thứ hai, phá giá liên tục làm các nhà đầu tư có cơ hội găm ngoại hối chờ đợt phá giá tiếp theo. Kết quả cung ngoại tệ không tăng, chỉ có nhu cầu tiền nội tệ tăng để mua đầu cơ ngoại tệ. Khi cung nội tệ tăng sẽ dẫn đến lạm phát. Trường hợp thứ ba, chính phủ duy trì tỷ giá hối đoái cao nhằm thu hút những người tích trữ ngoại tệ bán ra, nhờ đó làm giảm khan hiếm ngoại tệ. Tuy nhiên chính phủ duy trì song song cung tiền (nhằm phục vụ những mục tiêu khác) làm tỷ giá chợ đen sẽ bị đẩy lên cao hơn, do nội tệ dư thừa và/hoặc vì người dân không tin tưởng đồng nội tệ. Kết quả là nhiều người sẽ đổ xô mua ngoại tệ (bằng tỷ giá chính thức) để bán lại trên chợ đen, hoặc để găm giữ. Ngoại tệ vẫn sẽ tiếp tục khan hiếm trên thị trường.

Một số nhà phân tích cho rằng làm phát tại Việt Nam là không tránh khỏi. Jonathan Pincus, nhà kinh tế theo dõi Việt Nam từ lâu năm đã đăng một một bài báo vào tháng tư năm ngoái chỉ ra rằng lựa chọn của Việt Nam để đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu chứa rất nhiều hạn chế. Với một nền kinh tế quy mô nhỏ lại mở cửa, người ta không thể duy trì tỷ giá hối đoái USD/VND cao bất hợp lý và đâm đầu vào kích thích kinh tế, mà không thấy rằng điều đó sẽ dẫn đến những nguồn tiền rò rỉ làm thâm thủng cán cân thương mại. Vào lúc đó, ông Pincus lập luận rằng chính phủ sẽ phải phá giá đồng Việt Nam để thúc đẩy xuất khẩu, và tập trung đầu tư cho các doanh nghiệp nhỏ sử dụng nhiều lao động thay vì đầu tư cho các doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả. Chính phủ lại làm một việc hoàn toàn ngược lại. Chương trình hỗ trợ tín dụng hầu như chỉ dành cho các doanh nghiệp nhà nước có quan hệ tốt, và đồng Việt Nam bị giữ cao một cách giả tạo.

Những nhà tư vấn kinh tế độc lập của Việt Nam cũng đã phê phán thời điểm mà chính phủ chọn để phá giá tiền đồng và tăng giá hàng hóa. Nếu các nhà đầu tư dự đoán việc phá giá theo chu kỳ 3 tháng, họ sẽ chỉ việc mua đôla và chờ đến đợt phá giá tiếp theo để kiếm lời. Trong khi đó, các doanh nghiệp nước ngoài lo lắng không biết chính phủ sẽ can thiệp kinh tế như thế nào khi lạm phát bùng nổ mà không được khắc phục. Vừa rồi, Bộ Tài chính đã cho ban bố một nghị định dự thảo, cho phép chính phủ can thiệp lên việc định giá một số mặt hàng thiết yếu. Phòng thương mại và công nghiệp châu Âu lo ngại rằng giải pháp này sẽ chẳng có tác dụng gì, ngoài việc tiếp tục tạo ra khan hiếm và găm giữ đôla trong nhà. Khi số liệu về lạm phát tháng 3 sắp sửa được công bố, chúng ta hãy cùng xem liệu tình hình tháng 2 vừa rồi chỉ là do một hiện tượng đơn điệu (ảnh hường của Tết), hay sẽ báo trước những hiểm họa đang đến.

Đông A chuyển ngữ
Nguồn: The Economist –  Ngày 3 tháng 3, 2010.

Chú thích:

1 & 2: Phần đóng khung do Tạp chí Thanh Niên PHÍA TRƯỚC biên soạn.

©2010 Tạp chí Thanh Niên PHÍA TRƯỚC

Advertisements
Posted in: Kinh tế