Tập đoàn Kinh tế Nhà nước Việt Nam – TCPT số 37

Posted on Tháng Chín 24, 2010 bởi

0



LTS: Hiện tại, ở Việt Nam vẫn chưa có định nghĩa chính xác về tập đoàn kinh tế nhà nước và thực chất xung quanh vấn đề này còn rất nhiều tranh cãi. Nhiều người vẫn đặt câu hỏi về lý thuyết xã hội chủ nghĩa và nền “kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội” thực chất như thế nào. Các ý kiến tại Việt Nam cho rằng một là phát triển kinh tế theo thị trường tự do, hai là theo mô hình xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, cụm từ “định hướng xã hội chủ nghĩa” thật ra không mang ý nghĩa gì cả! Nhìn lại các mô hình kinh tế trên thế giới ngày nay, duy nhất chỉ có nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo nền kinh tế “định hướng xã hội chủ nghĩa” và mô hình này dường như ngày càng bế tắc thể hiện qua sự thua lỗ của các tập đoàn kinh tế nhà nước.

Định nghĩa

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, tập đoàn kinh tế được định nghĩa là một thực thể pháp l, mà trong khi được sở hữu chung bởi một số người tự nhiên hoặc những thực thể pháp l khác có thể tồn tại hoàn toàn độc lập khỏi chúng sự tồn tại độc lập này cho tập đoàn những quyền riêng mà những thực thể pháp l khác không có. Quy mô và phạm vi về khả năng và tình trạng của tập đoàn có thể được chỉ rõ bởi luật pháp nơi sát nhập.

Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005, tập đoàn kinh tế được xếp là một thành phần trong nhóm công ty, cụ thể: Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác. Thành phần của nhóm công ty gồm có:

Công ty mẹ, công ty con

Tập đoàn kinh tê

Các hình thức khác

Theo Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương CIEM thì khái niệm tập đoàn kinh tế được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia. Trong mô hình này, “công ty mẹ” nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của “công ty con” về tài chính và chiến lược phát triển.

Ông Hồ Xuân Tùng, Phó trưởng Ban chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp phát biểu trên báo Nhân dân rằng mô hình tập đoàn là một hình thái tổ chức giữa các doanh nghiệp. Còn nhiều quan niệm khác nhau về tập đoàn, song cũng có một điểm chung nhất là: Tập đoàn doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp, liên kết nhau bằng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hóa; các doanh nghiệp trong tập đoàn đều có pháp nhân độc lập.]

Theo Tiến sĩ Trần Tiến Cường, Trưởng Ban nghiên cứu cải cách và phát triển doanh nghiệp (Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế TƯ) trong dự thảo Nghị định về hình thành, tổ chức, hoạt động và giám sát đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước thì Tập đoàn kinh tế nhà nước là nhóm các công ty, liên kết chủ yếu dưới hình thức công ty mẹ – công ty con, có từ hai cấp DN trở lên, tạo thành tổ hợp kinh doanh gắn bó với nhau…

Tiền thân

Vào năm 1990 và 1991 nhà nước đã thành lập các Tổng công ty nhà nước, đến năm 2005 thì một số Tổng công ty được tổ chức thành tập đoàn kinh tế. Đến năm 2008 Việt Nam có 8 tập đoàn kinh tế và 96 Tổng công ty nhà nước hoạt động theo mô hình công ty mẹ – con. Danh sách các tập đoàn kinh tế Việt Nam cho đến năm 2008 bao gồm Bưu chính – Viễn thông (VNPT), Than – Khoáng sản (Vinacomin), Dầu khí (PetroVietnam), Điện lực (EVN), Công nghiệp Tàu thủy (Vinashin), Dệt May (Vinatex), Cao su (VRG) và Tài chính – Bảo hiểm (Bảo Việt).

Sự cần thiết và nhu cầu tất yếu

Tập đoàn Kinh tế Nhà nước Việt Nam

Song khác với các tập đoàn kinh tế thế giới, hầu hết đều đi từ các các công ty nhỏ, hoạt động rất hiệu quả, tích tụ vốn và phát triển quy mô dần trở thành các tập đoàn khổng lồ. Các tập đoàn kinh tế Việt Nam được thành lập dựa trên các tổng công ty có quy mô chưa lớn, yếu kém trong quản lý, quen dựa vào bao cấp đã vừa độc quyền lại thích có thêm quyền, phần lớn vị trí chủ chốt được bổ nhiệm vì lý do chính trị chứ không dựa trên năng lực quản trị kinh doanh nên sự tác hại của tập đoàn kinh tế khi làm ăn thiếu hiệu quả có thể gây tác hại lớn cho nền kinh tế, cần thận trọng trong việc thành lập.Hiệu quả hoạt động

Tám tập đoàn kinh tế cùng với 96 tổng công ty, công ty lớn của Nhà nước sở hữu gần 400.000 t đồng, chiếm hầu hết vốn của Nhà nước có tại các doanh nghiệp nhà nước. Các tập đoàn và tổng công ty đang nắm giữ 75% tài sản cố định của quốc gia, khoảng 60% tổng tín dụng ngân hàng trong nước và tổng vốn vay nước ngoài nhưng chỉ tạo ra khoảng 40% tổng sản phẩm trong nước. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các đơn vị này là 17%, 28,8% thu ngân sách. Tính đến cuối năm 2007, tổng số vốn chủ sở hữu của các tập đoàn và tổng công ty đã tăng 18%, tổng tài sản tăng 26%.

Tại một hội nghị hồi tháng 4-2008 ở Hà Nội, Bộ Tài chính cho biết tính đến cuối năm 2007, tổng giá trị đầu tư ra ngoài các lĩnh vực kinh doanh chính của 70 tập đoàn, tổng công ty nhà nước là gần 117.000 tỉ đồng, trong đó đầu tư vào lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bất động sản là hơn 23.400 tỉ đồng.

Tình hình nợ

Có nhiều số liệu khác nhau và nhiều cách nhìn nhận khác nhau về tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước mà các tập đoàn kinh tế nhà nước và các Tổng công ty nhà nước là các chủ thể chiếm tỷ trọng tuyệt đối về vốn. Tỷ lệ nợ phải trả 8 tập đoàn kinh tế cùng với 96 tổng công ty, công ty lớn của Nhà nước lên đến 1,36 lần, tính đến cuối năm 2007 và nợ của các tập đoàn kinh tế vẫn trong vòng kiểm soát.

Riêng Vinasin, theo công b ca Văn phòng Chính ph trong cuc hp báo thường kỳ ngày 2/7/2010 va qua, là trên 80.000 t đng, tương đương vi hơn 4 t USD. Tng tài sn ca Vinashin được cho là khong 90.000 t đng, trong đó khong 9.000 t đng là vn ch s hu. Ch nhìn qua nhng con s này cũng thy ngay là t l n trên vn ca Vinashin là 1/10, cao quá mc cho phép rt nhiu.

Tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước rất cao, cá biệt lên đến 42 lần trên vốn của chủ sở hữu. So với mức tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu của các tập đoàn kinh tế quốc tế là chỉ từ 1 đến 3 lần thì tỷ lệ nợ vay/vốn chủ sở hữu của các tập đoàn kinh tế Việt Nam nếu được công bố sẽ khiến “thế giới phải giật mình. Có đại biểu quốc hội đặt nghi vấn cho rằng nguyên nhân của việc thiếu rõ ràng trong bảo lãnh tín dụng, độc quyền, khó kiểm soát nợ của doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước có gốc gác từ lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm.

Hoạt động yếu kém, sử dụng quá nhiều nguồn lực, được quá nhiều ưu ái, ưu đãi kể cả lúc kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, cạnh tranh không bình đẳng, không làm tròn vai trò nòng cốt của nền kinh tế v thậm chí đã trở thành là gánh nặng của nền kinh tế. Các tập đoàn và Tổng công ty này đã gây lũng đoạn thông qua quan hệ, coi trọng lợi ích nhóm, các tập đoàn kinh tế được xem là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát cao vào năm 2008.

Có ý kiến so sánh về các tổng công ty nhà nước như sau:

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước như những chàng công tử, được cha mẹ (nhà nước) nuôi dưỡng chu đáo nên béo tốt. Nói chung là nhất về vị thế và ưu đãi, nhưng hiệu quả hoạt động lại yếu kém.

Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tải TCPT37 – Bản High Def (6MB)
Tải TCPT37 – Bản Standard (4MB)
Tải TCPT37 – Bản Mini (3MB)

Đọc thêm …

Advertisements
Posted in: Kinh tế