Thảo luận cùng học giả Bùi Ngọc Sơn: Sửa đổi Hiến pháp, trưng cầu dân ý và chủ quyền tối cao của nhân dân – TCPT số 38

Posted on Tháng Chín 25, 2010 bởi

2



Học giả Bùi Ngọc Sơn – một nhà hiến pháp học và giảng viên Luật ở Việt Nam – dường như là một trong những học giả hiếm hoi đặt vấn đề về hạn chế của việc sửa đổi Hiến pháp. Đây là vấn đề mang tính học thuật nhưng cần thiết trong việc đặt ra những nền tảng lý thuyết cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Chỉ khi nào chúng ta lập luận một cách lo-gíc, có dẫn chứng, thuyết phục được người dân về những nguyên tắc nền tảng của nền pháp trị, thì bản Hiến pháp được sửa đổi mới có tính chính danh và được người dân tin tưởng.

Bài viết này nhằm giới thiệu và thảo luận một số điểm của học giả Bùi Ngọc Sơn nêu ra trong bài viết “Sửa đổi quy trình sửa đổi Hiến pháp” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp tháng 9/2010.[i] Người viết bài này ủng hộ lập luận của ông Bùi Ngọc Sơn liên quan đến quyền trưng cầu dân ý để phúc quyết sửa đổi Hiến pháp của người dân, nhưng đề nghị rằng chủ quyền tối cao của nhân dân không thể bị hạn chế bằng việc phân biệt giữa quy trình và kết quả.

Ông Bùi Ngọc Sơn khẳng định cần thay đổi quan niệm về Hiến pháp, “coi Hiến pháp như một hình thức pháp lý mà người dân áp dụng đối với Nhà nước và tuyên bố những mục tiêu, lý tưởng chung của nhân dân.” “Nói cách khác, quyền lập hiến thuộc về nhân dân. Bằng quyền lập hiến, nhân dân thành lập ra Nhà nước và trao quyền cho Nhà nước.” Ông cho rằng quy trình sửa đổi Hiến pháp hiện nay “khá mơ hồ.” Quốc hội áp dụng cùng một quy trình cho sửa đổi luật và sửa đổi Hiến pháp. Ông xem đó là “hiện tượng lạ” xét dưới góc độ của Hiến pháp thành văn, nhưng có thể được giải thích “khi tham chiếu với chủ thuyết Quốc hội tối cao mà Hiến pháp theo đuổi.” Thế nhưng, ông nhận định, “sự đồng nhất quy trình sửa đổi Hiến pháp và quy trình sửa đổi luật có nghĩa là Quốc hội có quyền tối cao trong việc sửa đổi Hiến pháp.” Vì vậy, trả lại quyền lập hiến cho nhân dân cũng đồng nghĩa với việc phải sửa đổi quy trình sửa đổi Hiến pháp.

Sau khi điểm sơ qua một số mô hình trên thế giới, ông Bùi Ngọc Sơn cho rằng mô hình “phức tạp của lập pháp” (tức lập pháp không kiểm soát toàn bộ quá trình sửa đổi Hiến pháp mà có những yếu tố phức tạp hơn trong quy trình), cùng với trưng cầu dân ý là một lựa chọn phù hợp cho Việt Nam. Cụ thể, ông đề nghị quy trình rằng “hai phần ba tổng số đại biểu quốc hội có quyền đặt ra vấn đề sửa đổi Hiến pháp”. Sau đó “Quốc hội có thể ban hành một Nghị quyết về việc bầu cử Hội nghị sửa đổi Hiến pháp” và “các tỉnh sẽ bầu những đại diện tham gia vào Hội nghị này”. Cuối cùng, “những điều đã được Hội nghị Hiến pháp đồng ý phải được đem cho nhân dân bỏ phiếu phê chuẩn trong một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc.” Điều kiện không thể thiếu trong quá trình là “các phương tiện truyền thông cần tích cực đăng các nghiên cứu giải thích các điều khoản sửa đổi Hiếp pháp” và “giới luật học cần hoạt động tích cực thông qua các hoạt động báo chí, hội thảo, và diễn đàn.” Nhận định này hoàn toàn chính xác: một sự thảo luận rộng rãi, tự do sẽ giúp cho người dân có đầy đủ thông tin và đưa ra một sự lựa chọn hợp lý nhất.

Nhưng liệu quy trình này có áp dụng vào lần sửa đổi Hiến pháp năm 2011 sắp tới? Ông Sơn cho rằng vì Hiến pháp không quy định cụ thể, sáng quyền của Quốc hội và Hội nghị hiến pháp có thể được tiến hành mà không gặp vấn đề trái với Hiến pháp hiện hành. Thế nhưng “vấn đề khó khăn nhất là có thể tổ chức trưng cầu dân ý để phê chuẩn sửa đổi Hiến pháp theo khuôn khổ Hiến pháp Việt Nam hiện hành không?” Hiến pháp hiện nay, điều 53, 84, 91 quy định về trưng cầu dân ý, nhưng không phải là trưng cầu dân ý trong việc sửa đổi Hiến pháp. Điều 147 về sửa đổi Hiến pháp trao quyền này cho duy nhất Quốc hội. Tuy vậy, trưng cầu dân ý lần này sẽ không vi hiến. Lập luận này xứng đáng được trích dẫn đầy đủ:

“Điều 147 không phải là nguồn duy nhất để sửa đổi chính thức Hiến pháp. Một trong những nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng chính quyền hợp hiến ở Việt Nam được Hiến pháp ghi nhận là chủ quyền nhân dân được thể hiện qua quy định “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” (Điều 2). […] Chủ quyền nhân dân là tối cao, có nghĩa trong quốc gia không có một quyền nào có thể áp đặt những ràng buộc pháp lý lên chủ quyền nhân dân. Chủ quyền nhân dân là một quyền nguyên thủy, một quyền nguồn gốc mà từ đó hình thành nên các quyền của chính quyền, nên các quyền phái sinh này không thể đặt ra những ràng buộc pháp lý lên chủ quyền nhân dân. Trong khi đó, trưng cầu dân ý là một hình thức toàn vẹn nhất của chủ quyền nhân dân. Bằng việc thực hiện quyền trưng cầu dân ý, nhân dân trực tiếp hành xử chủ quyền nhân dân của mình. Vì vậy, người ta không thể đặt ra vấn đề tính hợp hiến của trưng cầu dân ý xét theo nghĩa bản chất. Nói cách khác, bản chất của hành vi trưng cầu dân ý không thể được xem xét trên phương diện hiến tính, mặc dù người ta có thể xem xét tính hợp hiến của thủ tục, quy trình, kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý.”

Đến đây, người viết hoàn toàn đồng ý với lập luận rằng không một quyền phái sinh nào có thể đặt những ràng buộc pháp lý lên chủ quyền tối cao và căn bản. Tuy vậy, người viết bài này cho rằng sự phân biệt giữa quy trình và kết quả của trưng cầu dân ý là không hợp lý. Ông Bùi Ngọc Sơn đưa ra sự phân biệt giữa “hành vi trưng cầu dân ý” – không thể được xem xét trên phương diện hiến tính,” và “các thủ tục, quy trình, kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý” vốn có thể bị xem xét tính hợp hiến. Thế nhưng, đã nói người dân là chủ quyền tối cao, thì ai có quyền xem xét tính hợp hiến của kết quả trưng cầu dân ý thể hiện nguyện vọng của nhân dân? Chẳng nhẽ các quyền phái sinh có quyền làm điều này sao, và dựa vào tiêu chí nào, ai là người quyết định tiêu chí nếu không có sự đồng thuận của chủ quyền tối cao là nhân dân?

Bên cạnh đó, lập luận rằng việc sửa đổi Hiến pháp bị hạn chế bởi chính bản Hiến pháp bị sửa đổi chỉ có giá trị khi bản Hiến pháp bị sửa đổi bản thân nó là sản phẩm của sự đồng thuận của người dân. Sự ràng buộc đó về bản chất là sự ràng buộc của thế hệ trước lên thế hệ sau, vì những lợi ích mà sự ràng buộc đó mang lại cho nhân dân nói chung.[ii] Thế nhưng, ai cũng biết rằng bản Hiến pháp hiện tại, cũng như từ các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 không hề được người dân phúc quyết thông qua. Vì vậy, trong lần sửa Hiến pháp này, việc trả lại chủ quyền tối cao cho nhân dân không chỉ mang ý nghĩa quyền phúc quyết của người dân qua trưng cầu dân ý, mà còn là quyền của người dân trong việc quyết định thể chế chính trị của mình.

Trong trường hợp chúng ta đồng ý với ông Bùi Ngọc Sơn rằng có những hạn chế của việc sửa đổi Hiến pháp, cụ thể là “cấu trúc cơ bản của chính quyền hay hệ thống chính trị mà Hiến pháp xác lập,” câu hỏi đặt ra rằng liệu các Hiến pháp 1959, 1980 và Hiến pháp hiện tại 1992 có tuân thủ yêu cầu này không? Câu trả lời chắc chắn là không. Các bản Hiến pháp này không những không tuân thủ quy trình sửa đổi Hiến pháp của Hiến pháp 1946, mà còn thay đổi hoàn toàn thể chế chính trị, từ “dân chủ cộng hòa” sang “cộng hòa xã hội chủ nghĩa.” Có thể có ý kiến cho rằng bản thân Hiến pháp 1946, vì tình trạng chiến tranh, cũng đã không được đưa ra cho nhân dân phúc quyết và vì vậy các Quốc hội sau đó không bị ràng buộc. Tuy vậy, Hiến pháp 1959 và 1980 đều viện dẫn Hiến pháp 1946 trong lời mở đầu và qua đó công nhận Hiến pháp 1946 như là văn bản cơ bản mà các Hiến pháp sau kế thừa và tiếp nối.

Lời mở đầu của Hiến pháp 1959 ghi rõ Hiến pháp 1959 bắt nguồn từ nhu cầu sửa đổi Hiến pháp 1946, chứ không phải là một bản Hiến pháp mới hay bản Hiến pháp đầu tiên: “Trong giai đoạn mới của cách mạng, Quốc hội ta cần sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho thích hợp với tình hình và nhiệm vụ mới.”3 Hiến pháp 1980 cũng ghi rõ: “Kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp này tổng kết và xác định những thành quả đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam trong nửa thế kỷ qua, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, bảo đảm bước phát triển rực rỡ của xã hội Việt Nam trong thời gian tới.”4 Và Hiến pháp 1992: “Qua các thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980.”5 Rõ ràng tất cả các Hiến pháp của Việt Nam đều tự nhận là văn bản kế thừa của Hiến pháp 1946, và vì vậy không có lý do gì có thể biện minh cho việc thiếu giá trị pháp lý của các Hiến pháp đó vì đã không tuân thủ quy trình sửa đổi mà Hiến pháp 1946 đặt ra.

Như vậy, dù đặt ra hay không đặt ra hạn chế của việc sửa đổi Hiến pháp, đặt vấn đề cấu trúc và bản chất hệ thống chính trị nhân dân phúc quyết là không thể né tránh, và hoàn toàn phù hợp với chủ quyền tối cao của nhân dân và nguyên tắc pháp trị. Trong lần sửa đổi Hiến pháp lần này, chính vì dư luận và nhiều học giả đồng thuận trong việc tôn trọng chủ quyền tối cao của người dân trong vấn đề lập hiến, bằng một cuộc trưng cầu dân ý đầu tiên trong lịch sử, thiết nghĩ không có lý do gì để một lần nữa tước đi quyền phát biểu nguyện vọng về thể chế chính trị của nhân dân, một thể chế trong đó chúng ta và các thế hệ kế tiếp sống và làm việc.

Người viết bài này mong nhận được thảo luận từ độc giả, và hồi đáp từ tác giả Bùi Ngọc Sơn trên tinh thần thảo luận học thuật mang tính xây dựng.

Thanh Thủy
© 2010 Tạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚC


2Xem Stephen Holmes, Precommitment and the Paradox of Democracy, trong Constitutionalism and Democracy (Jon Elster and Rune Slagstad, eds., Cambridge University Press 1997), tr. 195-240.

3 Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1959.  http://laws.dongnai.gov.vn/1951_to_1960/1960/196001/196001010001

4 Hiến pháp CHXHCNVN năm 1980. http://laws.dongnai.gov.vn/1971_to_1980/1980/198012/198012190001/lawdocument_view

5 Hiến pháp CHXHCNVN năm 1992. http://laws.dongnai.gov.vn/1991_to_2000/1992/199204/199204180001

Download TCPT38 – SEX trong học đường -Bản HĐ (10MB)
Download TCPT38 – SEX trong học đường – Bản Standard (4MB)
Download TCPT38 – SEX trong học đường -Bản Mini (2MB)

Đọc thêm …

Advertisements