Lý thuyết Phân tâm học và quá trình tiếp nhận tại Việt Nam – TCPT số 38

Posted on Tháng Mười 2, 2010 bởi

0



-Ngọc Cầm-

Phân tâm học (viết tắt của Phân tích tâm lý học hoặc Psychoanalysis) theo Bách khoa toà thư là tập hợp những lý thuyết và phương pháp tâm lý học có mục đích tìm hiểu những mối quan hệ vô thức của con người qua tiến trình liên tưởng. Môn học được khởi thảo bởi Sigmund Freud, một bác sĩ người Áo. Phân tâm học chuyên sâu nghiên cứu về con người. Phân tâm học chia bản năng con người ra làm ba phần bao gồm cái ấy (es), cái tôi (ich) và cái siêu tôi (überich). Các phần trên nói rõ con nguời luôn bị chi phối bởi bản năng tính dục và mọi hoạt động của con người đều nhằm thỏa mãn hoặc ức chế nhu cầu đó. Lý thuyết phân tâm đã được nhiều người nghiên cứu, tuy nhiên nó vẫn chưa thực sự được nhận thức đầy đủ. Cùng với nhiều công trình nghiên cứa về con người như thuyết tiến hóa và khoa học về nhận thức, đã đóng góp vào việc tìm hiểu sau hơn về nhận thức về văn hóa và văn minh nhân loại.

Đối với một nước chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lenin  như Việt Nam, việc thừa nhận và phổ biến một Phân tâm học quả thật đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình nhận thức của xã hội. Phân tâm học vốn dĩ không xa la, được giới thiệu vào nước ta từ những thập kỷ 30-40 thế kỷ trước. Nhưng phải sang thế kỷ 21, người ta mới nhắc nhiều tới khái niệm phân tâm học. Tuy chưa được sử dụng rộng rãi, nhưng Phân tâm học lại được ứng dụng trong một lĩnh vực có sức nặng ở nước ta, đó là phê bình nghệ thuật, cụ thể là văn học. Vì vậy, trong bài viết này, chúng tôi sẽ chỉ đề cập đến phương pháp phân tâm học trong nghiên cứu văn học nghệ thuật.

Quan điểm phê bình văn học nghệ thuật duy nhất được xem là chính thống ở nước ta kể từ sau Cách mạng tháng Tám duy nhất chỉ có phương pháp luận Marxism. Phương pháp luận này cho rằng phê bình phân tâm học là lối phê bình kỳ dị, không có sự liên hệ với đời sống xã hội – lịch sử. Marxism còn cho rằng phê bình phân tâm học chỉ đi tìm bản năng tính dục – một thứ bản năng đáng xấu hổ cần phải che dấu. Nhưng suy cho cùng, cuộc sống không phải chỉ có lịch sử và các vai trò xã hội. Các tác phẩm nghệ thuật vĩ đại vẫn luôn chinh phục được công chúng dù có trải qua hàng ngàn năm. Cho dù thời chiến hay thời bình thì con người có từng ấy các ham muốn tự nhiên, ham muốn bản thể, đôi khi nó đơn giản chỉ là một cái hôn, một cái ôm nồng ấm… – thứ ham muốn mà ở những xã hội đè nén “cái tôi” cá nhân coi là trụy lạc. Nhưng dù bị ngăn cấm, thứ “bản năng gốc” ấy không hề mất đi mà len lỏi, “ngụy trang” thành các dạng biểu hiện khác, và vô hình chung chi phối hoạt động của chúng ta. Biểu hiện dễ nhận biết của thứ “bản năng gốc” này qua các tác phẩm nghệ thuật.

Phê bình Phân tâm học giúp ta giải mã các tác phẩm thông qua quá trình tìm hiểu “ham muốn” của tác giả. Cụ thể hơn, đối tượng nghiên cứu phân tâm học bao gồm bốn phương diện: nghiên cứu nhà văn như một cá thể hoặc loại hình; nghiên cứu quá trình sáng tác; nghiên cứu các loại hình và phép tắc tâm lý trong tác phẩm (gồm cấu trúc tâm lý nhân vật, khám phá ý nghĩa tiềm tại; nghiên cứu tâm lý độc giả). Nội dung phê bình phân tâm học không ngoài các phương diện vô thức và bản năng tính dục, cấu trúc nhân cách, giải thích giấc mơ và xung đột trong mặc cảm Oedip, đối với người đọc là chức năng chia sẻ khoái lạc.

Phê bình Phân tâm học rất thịnh hành ở phương Tây nửa đầu thế kỷ 20. Sức ảnh hưởng của nó với phê bình văn học phương Tây đương thời có thể nói không phương pháp phê bình văn học đương thời nào sánh được. Dựa trên những lý thuyết tâm lý học của bác sĩ Freud và của nhà tâm lý học phân tích người Thụy Sỹ K.Jung. Freud quy động cơ hành vi con người vào các mặc cảm, tức là các chứng bệnh thần kinh gây nên do sự đè nén các bản năng tính dục thời thơ ấu. Còn lý thuyết của Jung đưa ra quan niệm về cái vô thức tập thể có từ thời nguyên thủy biểu hiện quả những mẫu cổ. Hai lý thuyết này thực sự đã trở thành làn sóng mạnh mẽ thu hút giới học giả với các tên tuổi nổi tiếng như Ch. Baudouin, Ch.Mauron, P.Guiraud, G.Bachelard… Đến cuối thế kỷ 20, J.Lacan ở Pháp vận dụng lý thuyết cấu trúc và ký hiệu học mở rộng phân tâm học vào văn bản, Norman Holland ở Mỹ vận dụng phân tâm học nghiên cứu phản ứng tiếp nhận của người đọc, thì phê bình phân tâm học được tiếp thêm sức mạnh và càng phát triển rộng rãi.

Năm 1936, phương pháp phê bình này đã du nhập vào Việt Nam, với các tên tuổi như Nguyễn Văn Hanh, Trương Tửu, sau này có thêm Đàm Quang Thiện và một số cây bút khác. Nhưng phải đến nhà văn hóa – phê bình văn học Đỗ Lai Thúy (cuối thế kỷ 20 – đầu thế kỷ 21) phương pháp phân tâm học mới được phổ biến rộng rãi với công chúng. Ông là người có công dịch các tài liệu liên quan đến Phân tâm học của nhiều học giả trên thế giới, tập hợp trong công trình “Phân tâm học” bao gồm “Phân tâm học và Văn hóa nghệ thuật”, “Phân tâm học và văn hóa tâm linh”, “Phân tâm học và tình yêu”“Phân tâm học và tính cách dân tộc”. Ngoài ra, ứng dụng phương pháp Phân tâm học, ông thực hiện các công trình nghiên cứu nổi tiếng như “Mắt thơ”, “Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực”, và đặc biệt là “Bút pháp của ham muốn” (Giari thưởng Phê bình văn học – Hội Nhà văn Hà Nội). Việc trao giải phê bình văn học cho cuốn “Bút pháp của ham muốn” đánh dấu sự thay đổi trong nhận thức của các nhà quản lý văn hóa nói riêng và công chúng nói chung, thoát khỏi sức ảnh hưởng của chủ nghĩa Marxism.


Bút pháp của ham muốn - Đỗ Lai Thúy

Một trong những công trình thành công nhất của Đỗ Lai Thúy có thể kể tới công trình Nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương. Ông không lặp lại cách giải thich theo phác đồ “dồn nén – ẩn ức – thăng hoa” để giải thích hiện tượng “dâm tục” trong thơ Hồ Xuân Hương. Nhiều học giả phê phán phương pháp phân tâm học để giải mã Hồ Xuân Hương, vì người ta luôn ngụ trang ẩn ức vô thức bằng những cái khác chứ không nói ra lộ liễu như nữ sĩ.

Thực ra, Hồ Xuân Hương vẫn còn tao nhã và kín đáo nếu ta đem so thơ bà với thơ dân gian Trung Hoa trong “Quải chi nhi”. Đỗ Lai Thúy đã kết hợp lý thuyết siêu mẫu (mẫu cổ) của Jung và văn hóa tín ngưỡng phồn thực và ông đã thành công, bởi ai cũng nhận ra rằng sinh thực khí và hành động tính giao là hai đề tài thường gặp trong thơ Hồ nữ sĩ. Sự sùng bái đã xóa tan cảm giác xấu hổ về “dâm tục” mà mang lại sự vui vẻ cho con người. Ông đã tìm ra mã khóa để mở cửa vào thế giới thơ Hồ Xuân Hương, đó là “hoài niệm phồn thực” mà cả ngàn năm Bắc thuộc và 600-700 năm ảnh hưởng Nho giáo dân Việt đã kìm nén tới mức lãng quên. Ngoài ra, ông gắn liền hiện tượng thơ Hoàng Cầm với “mặc cảm Oedip”, khai thác thơ Xuân Diệu qua tình yêu đồng giới, khám phá thế giới thơ kỳ dị của Đinh Hùng, Bích Khê, Vũ Hoàng Chương… qua bản năng tính dục.

Phương pháp phê bình Phân tâm học tuy còn nhiều hạn chế nhưng phương pháp này giúp con người tìm hiểu nhau bằng ánh mắt của con người chứ không phải qua những lăng kính phức tạp bởi các lý thuyết xã hội cứng nhắc. Hi vọng rằng, bước tiến trong việc giải mã văn học nghệ thuật bằng phân tâm học có thể thúc đẩy các bước tiến khác trong nghiên cứu khoa học xã hội như tâm lý học và xã hội học.

N.C.

© 2010 Tạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚC

Download TCPT38 – SEX trong học đường -Bản HĐ (10MB)
Download TCPT38 – SEX trong học đường – Bản Standard (4MB)
Download TCPT38 – SEX trong học đường -Bản Mini (2MB)

Đọc thêm …