Việt Nam: Tiềm năng lớn, nguy cơ cao – TCPT số 38

Posted on Tháng Mười 31, 2010 bởi

3



Hơn ba thập niên sau hoà bình, đất nước từng bị chiến tranh một thời hiện là một trong những nền kinh tế năng động và đầy hứa hẹn nhất ở Đông Nam Á. Thị trường chứng khoán Việt Nam – bao gồm sàn giao dịch Hồ Chí Minh và Hà Nội – hiện đã được một thập niên tuổi, tự hào với gần 600 công ty niêm yết với tổng số vốn hóa thị trường khoảng $33,2 tỉ USD.

Hơn một thập niên vừa qua, đất nước đã thực sự bắt tay vào một tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Nhưng nhìn lại, Việt Nam vẫn còn tương đối nghèo với cơ sở hạ tầng kém phát triển, thiếu các ngành công nghiệp công nghệ cao và cũng bị can thiệp quá mức bởi chính quyền cộng sản.

“Việt Nam thường được xem là một thị trường tiền tuyến”, ông David Dapice –  một nhà kinh tế với Chương trình Việt Nam học tại Đại học Harvard thuộc John F. Kennedy School của Chính phủ.  “Nhiều công ty niêm yết trên sàn giao dịch vẫn có phần là công ty quốc doanh và chịu mức độ ảnh hưởng của nhà nước trong hoạt động của mình. Tuy nhiên, một nửa trong số các công ty đó là củ tư nhân.”

Ví dụ, chính phủ nắm giữ cổ phần lớn trong một số công ty nổi bật như Vinamilk (Công ty sữa lớn nhất nước), Vietcombank và Tập đoàn Bảo Việt, một công ty bảo hiểm và dịch vụ tài chính.

Tiềm năng lớn, nguy cơ cao – TCPT số 38

Đầu tư theo định hướng Nhà nước như những nhà máy lọc dầu Dung Quất hoặc Vinashin, một công ty đóng tàu gần đây đã được tái cơ cấu, bị đánh giá là không hiệu quả, ông Dapice nói. Ông còn ước tính rằng khoảng 40% đến 50% các công ty ở Việt Nam chịu sự quản lý của Nhà nước.

Mặc dù người nước ngoài có thể mua cổ phiếu trên sàn giao dịch Việt Nam (với giới hạn nhất định), nhưng hầu hết các cổ phiếu từ các công ty nhỏ và bất ổn định. “Các nhà đầu tư nước ngoài hiện đang sở hữu khoảng 30% cổ phiếu ở Việt Nam, nhưng họ nhận ra rằng có những rủi ro kinh tế vĩ mô khi đầu tư vào Việt Nam,” ông nói thêm.

Các nhà xuất khẩu nước ngoài có thể đầu tư nhiều vào các tỉnh thành của Việt Nam và không cần phải đối mặt với những can thiệp từ Nhà nước, Dapice cho biết.

“Tuy nhiên, công ty nước ngoài buôn bán chủ yếu ở Việt Nam thường phải đương đầu với nhiều quy tắc phức tạp và quy định của nhà nước,” ông cho biết thêm.

Dapice, người cũng là một giáo sư kinh tế tại Đại học Tufts cho biết thêm rằng hệ thống kinh tế của Việt Nam là nhị nguyên: việc xuất khẩu, ngành kinh tế nội địa và nguồn vốn sử dụng khá hiệu quả, trong khi các doanh nghiệp nhà nước lớn là không hiệu quả.

Trong thực tế, thông qua tám tháng đầu năm 2010, xuất khẩu đã tăng 19,7%, đạt $44,52 triệu USD trong khi nhập khẩu đã tăng 24,4%, đạt $52,68 triệu USD.

“Hầu hết các ngành công nghiệp ở Việt Nam vẫn có kỹ thuật kém, chẳng hạn như sản xuất sữa, cá, tôm, hàng dệt may, giày dép, v.v… Tuy nhiên, một số công ty nhà nước và một vài công ty nước ngoài hiện đang nhanh chóng mở rộng trong các ngành công nghiệp nặng như thép, xi măng, công nghệ lọc dầu. Ngoài ra, Intel đã đầu tư vào nhà máy thử nghiệm chip và các nhà máy lắp ráp. Nhưng xét về tổng thể, ngành công nghiệp Việt Nam vẫn chưa đạt mức tinh vi.”

Ngoài ra, Trung Quốc đã trúng thầu xây dựng các đập nước và cơ sở hạ tầng khác, trong khi các quốc gia giàu có ở châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore lại đầu tư vào bất động sản và các nhà máy.

Dapice thừa nhận rằng mức độ nghèo đói ở Việt Nam đã giảm đáng kể trong hai mươi năm qua, do cả những cải cách và đầu tư trong nông nghiệp và mở rộng của các công ty tư nhân sau năm 2000, cùng với đầu tư thâm dụng lao động trực tiếp từ nước ngoài.

“Việc sử dụng tivi và điện thoại di động đang rất phổ biến. Và ở một đất nước có 20 triệu gia đình, có hơn 20 triệu xe máy và xe tay ga.” Ông lưu ý thêm, “sự thâm nhập vào Internet của các đối thủ từ Trung Quốc cao hơn từ Thái Lan.”

Thật vậy, sức tiêu thụ đang gia tăng trong nước nhưng mức chi tiêu vẫn còn khá khiêm tốn. Theo Liên Hiệp quốc và Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người hàng năm khoảng $1010 USD và khoảng 12% cư dân sống dưới mức nghèo khổ.

Hơn nữa, tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam vẫn cao hơn nhiều so với mức trung bình ở các nền kinh tế phương Tây, nhưng gần đây đã thực sự giảm xuống. “GDP của Việt Nam đã tăng khoảng 6% trong năm 2008, sau đó 5,3% trong năm 2009 và phải ứng trước khoảng 6% trong năm nay,” Dapice cho biết. “Nhưng trong năm 2007 và trước đó, mức tăng trưởng hằng năm vượt mức 8%. Để có lại những sự tăng trưởng như thế có lẽ phải đợi đến khi có những cải cách mới và đến khi những cải cách đó có hiệu lực. “

Dapice cho rằng trong khi Việt Nam có tiềm năng lớn để trở thành một nền kinh tế quyền lực lâu dài, đầu tiên Việt Nam cần phải giải quyết một số vấn đề trước mắt.

“Tăng trưởng tín dụng mỗi năm trung bình trên 30% cho một thập kỷ, nên không ngạc nhiên khi lạm phát cao và thâm hụt thương mại của nước này là lớn,” ông giải thích. “Thâm hụt tài chính đã ở mức 8-10% của GDP trong vài năm.”

Thực tế, giá tiêu dùng của Việt Nam tăng 8,18% trong tháng tám so với năm trước đó, phù hợp với con số 8,19% được ghi trong tháng bảy.

Thâm hụt thương mại của Việt Nam đã lên tới $900 triệu USD trong tháng tám từ con số $978 USD vào tháng bảy, theo Tổng cục Thống kê tại Hà Nội. Trong vòng tám tháng tính đến tháng tám nay năm, tổng thâm hụt là $8,16 tỷ USD. Thực sự Việt Nam có thặng dư thương mại với các nước giàu ở phương Tây, nhưng quan hệ thương mại với Trung Quốc (Việt Nam đã nhập ‘quá tải’ các hàng hoá tiêu dùng và công nghiệp từ Trung Quốc) đã đẩy hình ảnh thương mại tổng thể của Việt Nam vào thâm hụt đáng kể. Thâm hụt thương mại cao đã dẫn đến sự mất giá của tiền tệ của quốc gia, trong đó tiền đồng đã sụt giảm hơn 5% trong năm nay.

Hơn nữa, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) mới đây cảnh báo rằng dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đã giảm xuống tương đương với bảy tuần nhập khẩu – nâng cao nguy cơ tiềm ẩn cho sự mất cân bằng trong việc thanh toán ngoại tệ.

Trong thực tế, nỗi lo sợ về sự mất cân bằng tín dụng của Việt Nam là một trong những lý do Fitch Ratings hạ cấp đánh giá nợ nước ngoài xuống B+ từ BB- vào cuối tháng bảy vừa qua. Fitch cũng trích dẫn các chính sách kinh tế của Việt Nam là “không phù hợp” và lo lắng về chất lượng tài sản trong lĩnh vực ngân hàng.

Trong khi đó, tỷ lệ dân số về học vấn của Việt Nam khá cao (với tỷ lệ trên 90%), nhưng hệ thống giáo dục của nước này còn rất nghèo nàn. Dapice ghi chú thêm rằng có lẽ vấn đề khó khăn nhất là quản lý kinh tế của chính phủ quá thất thường.

“Quản lý kinh tế vĩ mô của Việt Nam không được phối hợp chặt chẽ hoặc họ cố gắng làm quá nhiều thứ, trong khi nhiều khoản đầu tư được thực hiện với nhiều cân nhắc chính trị hơn là mối quan tâm về hiệu quả,” ông nói.

Tuy nhiên, Mark Sidel, giáo sư luật tại Đại học Iowa ở thành phố Iowa và là cố vấn pháp lý quốc tế cho Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc Dự án Cải cách pháp lý tại Hà Nội, cho biết ông vẫn lạc quan hơn khi nhìn về Việt Nam.

Với một điều, ông tin rằng đất nước đã bước ra khỏi tình trạng “bao cấp” để đi đến thị trường tự do, trong đó phải nhắc đến 20 năm lịch sử đổi mới cộng với hoạt động thương mại và đầu tư nước ngoài, hoạt động thị trường chứng khoán, hiệp định thương mại song phương và lao động kỹ thuật cao. Và mặc dù những quan chức cộng sản đôi khi quá nặng tay đối với các chính sách kinh tế, Sidel chỉ ra rằng Việt Nam vẫn là một “thị trường chơi rong và năng động”.

“Nói chung là tôi không nghĩ rằng các chính sách sắp tới của Hà Nội quá ngột ngạt với hoạt động kinh tế,” ông nói. “Bất cứ ai ghé thăm các thành phố của Việt Nam ngay lập tức sẽ nhận thấy nó là một môi trường kinh tế mở, phát triển mạnh và sôi động.”

Thừa nhận rằng ngành công nghiệp ở Việt Nam vẫn còn kém phát triển và công nghệ thấp, Sidel cho biết Việt Nam có thể trở thành một trong những nước công nghệ cao trong những năm tới.

“Nó sẽ mất thời gian để xây dựng một khu công nghệ cao mạnh mẽ – như điều đã làm ở Trung Quốc – nhưng các yếu tố này sẽ đến với nhau,” ông nói. “Người Việt Nam đã nhận ra tầm quan trọng của việc chuyển đổi sang nền kinh tế trọng tâm công nghệ cao.”

Các cộng đồng người Việt trên toàn thế giới (đặc biệt là ở Mỹ, Canada, Australia và Pháp) là một cầu thủ lớn trong vận may kinh tế của đất nước. Theo Ngân hàng Thế giới và IMF, từ năm 2001 đến 2008, kiều hối nước ngoài đến Việt Nam nhiều hơn gấp ba lần lên đến $7.2 tỷ USD, chiếm khoảng 8% của GDP. Những số tiền này đang được sử dụng để tài trợ xây dựng nhà mới, kinh doanh, nhà máy và bất động sản. Và họ không chỉ gửi tiền! Vì mỗi năm có khoảng 500,000 Việt kiều trở về quê hương thăm gia đình hoặc du lịch trong các dịp Tết âm lịch và năm mới.

Về bản chất, Việt Nam là một đất nước mang nhiều tiềm năng cao nhưng rủi ro cũng rất đáng kể.

Palash R. Ghosh

Nguồn: International Business Time

PHÍA TRƯỚC dịch

 

Download TCPT38 – SEX trong học đường -Bản HĐ (10MB)
Download TCPT38 – SEX trong học đường – Bản Standard (4MB)
Download TCPT38 – SEX trong học đường -Bản Mini (2MB)

Advertisements
Thẻ:
Posted in: Kinh tế