Tự do kinh tế tại Việt Nam – TCPT số 43

Posted on Tháng Ba 11, 2011 bởi

1



Tự do kinh tế tại Việt Nam theo Index of Economic Freedom là 51,6 điểm trong năm 2011, được xếp vào hạng thứ 139 trong 179 nước. Con số này được tăng 1.8 điểm so với năm ngoái, chủ yếu phản ánh về tự do tiền tệ tự do kinh doanh. Việt Nam được xếp thứ hạng 30 của 41 quốc gia trong khu vực châu ÁThái Bình Dương, điểm chung của Việt Nam vẫn thấp hơn mức trung bình thế giới khu vực.

Tận dụng cơ hội hội nhập vào hệ thống thương mại toàn cầu đầu tư, Việt Nam đã biến mình thành một nền kinh tế định hướng thị trường cởi mở hơn. Cải cách đã bao gồm tư nhân hóa một phần các doanh nghiệp nhà nước, tự do hoá chế độ thương mại, công nhận ngày càng tăng về quyền sở hữu tư nhân. Mặc dù kinh tế toàn vẫn còn nhiều thách thức, kinh tế Việt Nam đã có tỷ lệ tăng trưởng hàng năm trung bình khoảng 7% trong năm năm qua.

Tuy nhiên, tổng thể về tự do kinh tế của Việt Nam vẫn còn giới hạn bởi nhiều yếu tố thể chế quan trọng. Mặc dù đã nỗ lực cải cách liên tục, môi trường pháp lý tại Việt Nam vẫn không đạt hiểu quả hoặc vẫn còn thiếu minh bạch. Đầu tư bị cản trở bởi nạn quan liêu hệ thống pháp lý không đáng tin cậy. Doanh nghiệp nhà nước vẫn còn chiếm khoảng 40% GDP, cản trở sự tăng trưởng của các doanh nghiệp tư nhân. Tư pháp tại đây vẫn còn yếu dễ bị ảnh hưởng bởi chính trị, nạn tham nhũng vẫn tràn lan khắp đất nước.

Thể  chế

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được lãnh đạo bởi một chế độ độc đoán độc đảng, và phải tự ‘đổi mới’ năm 1986 để hoà nhập vào con đường của tự do hóa kinh tế. Trong năm 2007, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Việt Nam hiện nay tự hào có một trong các nền kinh tế phát triển nhanh nhất tại Đông Nam Á, chủ yếu nhờ vào du lịch và xuất khẩu. Nhưng mặt khác, Việt Nam còn gánh thêm vấn đề lạm phát nghiêm trọng hiện đang đấu tranh để thu hút đầu tư nước ngoài nhiều hơn nữa. Chính phủ hiện đang tự do hóa dần các lĩnh vực kinh tế trọng điểm, bao gồm cả tổ chức tài chính, nhưng đàn áp chính trị thiếu tôn trọng các quyền cơ bản của con người vẫn là vấn đề rất nghiêm trọng.

Tự do kinh doanh – 61.6 +0.9

So với năm 2010, tự do kinh doanh năm nay tăng 0.9 điểm. Gần đây Việt Nam có đã tiến triển trong cải cách doanh nghiệp và đã đạt được những kết quả nhất định. Thủ tục hành chính đã được sắp xếp hợp lý, các khung khổ pháp lý cho các doanh nghiệp nhỏ đã được cải thiện đôi chút.

Tự do thương mại – 68.9

Trung bình thuế quan của Việt Nam là 10,6% trong năm 2007. Chính phủ đã đạt được một số tiến bộ trong chế độ tự do hóa thương mại kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007, nhưng vẫn còn một số lệnh cấm và hạn chế nhập khẩu, vẫn còn các rào cản dịch vụ truy cập thị trường, nhập khẩu yêu cầu phải cấp phép, các quy định không minh bạch, nhà nước được quyền ưu tiên kinh doanh một số hàng hóa, thực thi yếu kém quyền sở hữu trí tuệ, tham nhũng, và hải quan không thống nhất thêm vào các chi phí thương mại. Mười điểm bị trừ cho chỉ số tự do thương mại của Việt Nam vì các hàng rào phi thuế quan.

Tự do thuế khoá – 75.9 -0.2

Việt Nam thực hiện cải cách thuế vào tháng Giêng năm 2009. Các mức thuế thu nhập hiện nay là 35%, thuế doanh nghiệp 25%. Dầu khí đề án đánh thuế riêng biệt với mức giá khác nhau, từ 32% đến 50%. Hiện Việt Nam không áp dụng các mức thuế ở cấp địa phương. Các loại thuế khác bao gồm thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thừa kế, thuế tài sản. Trong những năm gần đây, tổng doanh thu thuế theo phần trăm GDP 23,6%.

Chi tiêu của chính phủ – 75.1 +1.7

Trong những năm gần đây nhất, tổng số chi tiêu chính phủ bao gồm cả các khoản thanh toán tiêu thụ chuyển giaogiảm nhẹ xuống 28,8% GDP. Cuộc khủng hoảng toàn cầu vừa qua cho thấy một số lỗ hổng về cơ cấu trong tài chính của chính phủ và chính quyền buộc phải xem xét lại kế hoạch ngân sách để cân bằng mức thâm hụt. Tiến bộ trong việc tư nhân hoặc cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước là cần thiết để giúp tăng sự ổn định tài chính.

Tự do tiền tệ – 79.1 điểm +21.0

Lạm phát đã tăng cao liên tục, trung bình 10,9% từ năm 2007 đến 2009. Chính phủ đã điểu chỉnh giá cả thông qua quy chế bình ổn, trợ cấp, doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng, và các tiện ích. Mười lăm điểm đã được khấu trừ từ chỉ số tự do tiền tệ của Việt Nam cho các biện pháp bóp méo giá cả trong nước.

Tự do đầu tư – 15.0 điểm   -5.0

Trong nhiều lĩnh vực kinh tế, đầu tư nước ngoài bị cấm hoặc yêu cầu phải có chính phủ phê duyệt. Điều làm các nhà đầu tư nản lòng bao gồm bộ máy quan liêu cồng kềnh, quy định không minh bạch, tham nhũng, và một hệ thống pháp lý không đáng tin cậy và phức tạp. Người cư trú và người không cư trú có thể lập các tài khoản ngoại tệ, dưới sự hạn chế và chấp thuận của chính phủ. Thanh toán và chuyển tiền cũng bị hạn chế. Hầu hết các giao dịch trong thị trường tiền tệ, các dẫn xuất, tín dụng thương mại và đầu tư trực tiếp đều phải được chính phủ phê duyệt. Tất cả đất đai thuộc sở hữu của nhà nước.

Tự do tài chính – 30 điểm

Hiện nhà nước vẫn còn tham gia sâu vào lĩnh vực tài chính kém phát triển. Ít hơn 20% dân số tài khoản ngân hàng. Các khoản cho vay của ngân hàng nhà nước là tập trung vào các doanh nghiệp lớn của nhà nước, lãi suất có thể được trợ cấp. Mặc dù có số lượng lớn các ngân hàng nhỏ nhưng bốn ngân hàng chính nhà nước kiểm soát cho vay nhiều nhất. Quy chế, giám sát, và các khoản vay không hoàn thành được ước tính đến nay cao hơn mức báo cáo khoảng 2%. Thị trường chứng khoán đang dần mở rộng. Trong năm 2008, bốn ngân hàng được phép khởi động các công ty con thuộc sở hữu 100% vốn nước ngoài, tư nhân hoá một phần của nhà nước Vietin Bank đã được hoàn thành trong năm 2009.

Quyền sở hữu tài sản – 15 điểm

Việt Nam chỉ thành lập được những nguyên tắc sơ đẳng trong việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản. Một trong ba nhánh quyền hành, nhánh toà án hiện nay không phải là cơ quan độc lập, tham nhũng thường rất phổ biến. Các hợp đồng được thực thi một cách yếu ớt giải quyết tranh chấp có thể mất nhiều năm. Tất cả đất đai thuộc sở hữu của nhà nước, nhưng người nước ngoài có thể thực hiện giao dịch bất động sản. Đầu tư nước ngoài có thể thuê đất trong thời gian 50 năm, hoặc lên đến 70 năm một số vùng nghèo. Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng rất phổ biến.

Tự do từ tham nhũng – 27 điểm

Tham nhũng được coi là rất phổ biến tại nước này. Việt Nam đứng thứ 120 trong số 180 quốc gia về chỉ số minh mạch trong năm 2009, theo Transparency International’s Corruption Perceptions Index. Tham nhũng ở Việt Nam phần lớn do sự thiếu minh bạch, trách nhiệm và các phương tiện truyền thông tự do, cũng như mức lương quá thấp cho các quan chức chính phủ và thiếu hệ thống tổ chức. Một nhầm lẫn chồng chéo của các điều luật quy định và thủ tục hành chính đã tạo cơ hội cho tham nhũng.

Tự do lao động – 68.2 -0.2

Thị trường lao động Việt Nam vẫn còn tương đối cứng nhắc. Chi phí không lương để nhận một công nhân là vừa phải, nhưng sa thải một nhân viên thường rất khó khăn. Trong những năm gần đây, chính phủ đã tăng mức lương tối thiểu trong các doanh nghiệp trong nước doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, một phần để giảm bớt tình trạng bất ổn lao động. Bắt đầu từ năm 2010, một mức lương tối thiểu duy nhất trên toàn quốc sẽ được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp.

Hồng Phúc chuyển ngữ
Sài Gòn, 05/02/2011

Nguồn: 2011 Index of Economic Freedom

 

TCPT43 – Thanh niên & Đất nước
Download TCPT43 – Bản in – 10MB
Download TCPT43 – Bản thường – 4.0MB
Download
TCPT43 – Bản Mini – 2.1MB

Đọc thêm …

Advertisements
Posted in: Kinh tế