Những nỗ lực trong việc bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Tính Tẩu – TCPT số 43

Posted on Tháng Ba 13, 2011 bởi

1



Bài và ảnh: Tiểu Phong

Đã mười mấy năm nay, nghệ nhân Nông Văn Nhay được cộng đồng người Thái Trắng ở Mường So, Phong Thổ, Lai Châu gọi bằng cái tên mộc mạc là “Ông Tính tẩu”. Giới văn nghệ sĩ thì gọi ông bằng một cái tên mĩ miều hơn – “Người Giữ Hồn Tính tẩu”. Quả thực, với nỗ lực không ngừng, bằng một niềm tâm huyết và khát khao phải làm sao để cho cây Tính tẩu[1] của người Thái Trắng ở Mường So không mất đi giá trị đích thực của nó nên từ nhiều năm nay, ông đã dành hầu hết thời gian, sức lực cho “nhiệm vụ cao cả” này.

Gặp nghệ nhân Nông Văn Nhay vào trung tuần tháng bảy ở thị trấn Phong Thổ – trong căn nhà nhỏ nép bên góc chợ ồn ào với bao cảnh mua bán. Ông đang cặm cụi tỉa tót tỉ mỉ những thanh gỗ dài. Cạnh đó là một đống ngổn ngang nào vỏ bầu, dây cước; nào hộp vecni và vài công cụ chế tác đồ gỗ thô sơ. Ông tươi cười đón tiếp chúng tôi mà vẫn không thu dọn đống đồ nghề của mình.

Ông nói: “Bận quá các anh ạ! đang vội làm đàn để chuẩn bị cho khóa truyền dạy các bản nhạc Tính tẩu cổ truyền của cha ông. Chúng sắp mất rồi, may mà có tài trợ”. Nhìn khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi với những vết nhăn hằn trên trán, trên má mà vẫn tươi rói một nụ cười rạng rỡ, chúng tôi biết ông đang vui lắm.

Nghệ nhân Nông Văn Nhay. Ảnh: Tiểu Phong/PHÍA TRƯỚC

Qua trò chuyện, chúng tôi được biết, ông vừa được Quỹ Đan mạch[2] phê duyệt tài trợ dự án khôi phục và bảo tồn các bản nhạc đàn tính cổ truyền của người Thái Trắng ở xã Mường So, số tiền không lớn nhưng cũng đủ để ông trang trải cho việc mua vật liệu làm đàn, bồi dưỡng nghệ nhân và các học viên tham gia khóa truyền dạy.

Vừa tiếp chúng tôi, ông vừa cặm cụi làm tiếp công việc đang dở dang. Ông tự hào nói với chúng tôi: “với người Thái Trắng ở Mường So, Tính tẩu có địa vị “chúa tể” trong các sinh hoạt âm nhạc dân gian và là vật tuỳ thân của thanh niên xưa. Tính tẩu xuất hiện trong hầu hết các thể loại âm nhạc chỉ trừ hát đồng giao và hát trong các nghi lễ toàn mường. Toàn bộ cây đàn được làm từ nguyên liệu có sẵn, dễ kiếm ở ngay địa phương. Một cây đàn tốt thì cần đàn phải được làm bằng gỗ nhẹ, dẻo, thớ quánh, thường là gỗ thừng mực, tiếng Thái gọi là mạy măn hoặc mạy tin pết. Cần đàn có chiều dài “9 nắm tay”[3]. Bầu cộng hưởng làm từ nửa dưới của quả bầu hình be rượu, đã để khô già, có đường kính từ 17 – 20 cm, vỏ dày 2 – 3 mm. Mặt đàn không quy định loại gỗ, nhưng phải chọn thứ gỗ nhẹ, đều thớ, không có mấu, sẹo và phải được làm thật mỏng, bào thật nhẵn”.

Nét mặt ông trầm lại, ông nói: “ở Mường So bây giờ hầu hết thanh niên không biết chơi Tính tẩu. Những người biết chơi đàn hầu hết đều ở lứa tuổi cao niên và trung niên, số người thạo chơi đàn thì ngày càng vắng bóng. Sinh hoạt văn hóa văn nghệ của người Thái Trắng nơi đây ngày càng vắng dần cây đàn này. Đau đớn thay, ở các hội diễn văn nghệ quần chúng, Tính tẩu cũng lên sân khấu nhưng không phải với tư cách là một nhạc cụ mà lại trở thành một đạo cụ dùng cho múa”.

Ảnh: Tiểu Phong/PHÍA TRƯỚC

Để “cứu vãn” thực trạng này, từ sau khi thôi đảm nhiệm vị trí Phó Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Phong Thổ, nghệ nhân Nông Văn Nhay đã nghiên cứu đóng mới những cây Tính tẩu. Ông cho biết, mới đầu việc làm Tính tẩu gặp nhiều khó khăn do ông chưa thạo cách làm. Những cây Tính tẩu ban đầu tuy đúng về kiểu dáng, mẫu mã nhưng âm thanh thì cái đục, cái đanh, cái thì đánh không ra tiếng. Nhưng “có công mài sắt, có ngày nên kim”; và giờ đây những cây đàn của ông đã là một sản phẩm được ưa chuộng. Tiếng tăm về “Ông Tính Tẩu” đã nức tiếng không chỉ với người Thái ở Mường So mà còn vang đi khắp nơi, nhất là ở các thành phố lớn, nơi có những nhà khoa học về dân tộc học, văn hóa dân gian quan tâm đến Di sản văn hóa Thái như Hà Nội, Viên Chăn (Lào), Băng Cốc (Thái Lan)…

Với những cây đàn làm được, một phần ông bán lấy tiền để tiếp tục mua vật liệu làm ra những cây đàn mới; nhưng phần lớn ông dành để biếu, tặng, cho những ai có tâm huyết với Di sản văn hóa Thái và những ai biết yêu quí, biết nâng niu “hồn Tính tẩu”.

Trở lại chuyện tài trợ cho lớp truyền dạy các bản nhạc tính tẩu cổ truyền của người Thái Trắng ở Mường So, ông cho biết đây là điều ông đã ấp ủ từ lâu, mong muốn của ông là được truyền dạy tất cả những gì mình hiểu biết cho thế hệ trẻ để tạo ra một thế lớp người cận nhằm bảo tồn sống trong cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, do nguồn kinh phí tài trợ eo hẹp nên ông chọn giải pháp lựa chọn ở mỗi bản từ một đến hai người đã biết chơi Tính tẩu để truyền lại cho họ bí quyết của những ngón đàn và những bản nhạc cổ xưa, cả những bản nhạc mà theo ông thì từ sau giải phóng đến nay không có ai chơi nữa. Mong muốn của ông là sau khóa học này, mỗi bản ở Mường So đều có những “nghệ nhân” biết chơi và có thể chơi hay những bản nhạc Tính tẩu cổ truyền để họ truyền dạy lại cho thế hệ trẻ tiếp theo.

Chia tay nghệ nhân Nông Văn Nhay, chúng tôi vẫn không khỏi băn khoăn về những hoài bão, ấp ủ tuy nhỏ nhoi nhưng đầy ý nghĩa của một người “Chiến sĩ văn hóa” đã cống hiến hết tuổi thanh xuân của mình cho ngành văn hóa của nước nhà. Và nay, khi đã bước vào tuổi Thất thập cổ lai hi, ông vẫn miệt mài với công việc gìn giữ vốn cổ. Một công việc mà theo ông “không có hồi kết thúc”. Hôm nay, nghệ nhân Nông Văn Nhay gọi điện hồ hởi thông báo với tôi lớp truyền dạy đã được tổ chức trong thời gian 9 ngày tại nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng bản Vàng Pheo và đã thành công tốt đẹp, ông còn gửi tặng tôi cả một cuốn Photos album nhật ký lớp học nữa.

Chúc mừng nghệ nhân Nông Văn Nhay và chúng tôi hy vọng ông sẽ có nhiều đóng góp hơn nữa cho việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, văn nghệ dân tộc Thái.

T.P.
© 2011 Tạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚC


[1]. Một loại nhạc cụ phổ biến trong nhiều dân tộc nói ngôn ngữ Tày Thái và Môn Khơ Me ở miền núi phía Bắc. Có vùng đàn có 3 dây, có vùng đàn chỉ có 2 dây

[2]. Quỹ Đan Mạch có tên gọi đầy đủ là Quỹ Đan Mạch phát triển, hợp tác và trao đổi văn hóa giữa Việt Nam và Đan Mạch. Tên giao dịch tiếng Anh là Danish fund for the promotion, co-operation and exchange of calture between VietNam and Denmark

[3]. Một đơn vị đo lường phổ biến ở nhiều dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam, thực hiện bằng cách nắm chặt hai bàn tay rồi ướm vào vật cần đo theo phương thẳng hàng. Số nắm tay chính là kết quả đo. Cách đo này có thể đo đường thẳng, tiết diện, chu vi của các vật thể nhỏ.

 

TCPT43 – Thanh niên & Đất nước
Download TCPT43 – Bản in – 10MB
Download TCPT43 – Bản thường – 4.0MB
Download
TCPT43 – Bản Mini – 2.1MB

Đọc thêm …