Doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam không nên độc quyền trong các quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương – TCPT số 46

Posted on Tháng Sáu 16, 2011 bởi

0



-Nguyên Ân chuyển ngữ-

Có vẻ như Việt Nam đã tiến một chặng đường khá dài trong thời gian vừa qua. Nền kinh tế Việt Nam đã phát triển tốt trong những năm 1990 và trong những năm đầu của thế kỷ 21. Tuy nhiên trong hai năm qua, bất chấp tất cả những ưu điểm mà đất nước đang sở hữu, Chính phủ Việt Nam đã làm mất ổn định một nền kinh tế đầy hứa hẹn. Và bây giờ, trong nhiều khó khăn, tập đoàn nhà nước Vinashin chuyên đóng tàu và cách xử lý của chính phủ đã tự đặt họ vào tầm ngắm của thế giới trong việc thiếu nỗ lực tư nhân hóa nền kinh tế Việt Nam.

Điều chắc chắn là Hoa Kỳ cần làm việc với Việt Nam để cải thiện nền kinh tế tại đây. Mối quan hệ song phương của hai nước trong những năm qua đã đạt được một số cải cách đáng kể. Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và hiệp định thương mại song phương với Mỹ đã giúp mang lại nhiều thay đổi cần thiết cho nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, trọng tâm thương mại hiện hành của Mỹ trong các Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership – TPP), sẽ yêu cầu nhiều hơn nữa từ chính quyền Hà Nội. Hoa Kỳ yêu cầu phía Việt Nam không phân biệt đối xử trong các quy định, cần minh bạch trong quản trị, và xoá bỏ các rào cản đầu tư – đây cũng là các điều được cho là đụng chạm đến các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước Việt Nam.

Với tình trạng nền kinh tế hiện nay, Việt Nam có khả năng không thể đạt được những điều kiện trên và nhiều quy định khác mà họ đã cam kết. Kết quả là các cuộc đàm phán TPP có thể được giữ làm con mồi để áp đạt các cách hoạt động không hiệu quả đối với các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước Việt Nam. Hoa Kỳ không nên cho phép điều đó xảy ra.

Sự nguy hiểm của bất ổn giá cả

Hình ảnh nền kinh tế của Việt Nam hiện nay khá lộn xộn. Một trong những vấn đề ấy chính là thiếu các nguồn thông tin trung thực. Một số quốc gia cho công bố các kết quả kinh tế một thời gian ngắn sau khi các quý, tháng, hoặc năm tài chính kết thúc. Trong khi đó, Việt Nam gọn gàng tránh vấn đề này bằng cách công bố các dữ liệu trước khi khoảng thời gian đó kết thúc. Đặc biệt hơn, đây toàn là những con số ước lượng, và ít khi nào Việt Nam quay lại sửa đổi các chỉ số kinh tế sau khi có kết quả.

Ngay cả các dữ liệu chính xác cũng là điều khó hiểu trong môi trường kinh tế hiện hành. Giá cả đang thay đổi nhanh chóng, gây ra nhiều công ty và cá nhân thay đổi chiến lược liên tục trong môi trường kinh doanh. Trong các số liệu chính thức, chỉ số lạm phát nằm ở mức gần 14% vào tháng ba vừa qua, và tình hình cho thấy chỉ số vẫn còn tiếp tục tăng cao. Lãi suất thực, giá của đồng tiền trong nước, đã giảm nhanh chóng vì các mức tăng của nhà nước không theo kịp với lạm phát. Tiền đồng đã được giảm giá trị bốn lần trong 15 tháng, có nghĩa là giá tiền nước ngoài ở tiền Việt Nam tiếp tục tăng cao.1

Kết quả là có quá nhiều tiền đồng nhưng không đủ hàng hóa hay ngoại tệ mạnh. Các công ty lợi dụng thời cơ này đề vay vốn rẻ càng nhiều càng tốt (bằng tiền đồng): Tăng trưởng tín dụng trong năm 2010 hơn 20%, phần lớn là trợ cấp của chính quyền trung ương và địa phương. Vì tiền đồng có giá trị quá nhỏ nên phần đông người dân đã tích trữ hàng hóa, vàng hoặc đô la Mỹ.2 Lạm phát ở đây không phải gây ra bởi những hàng hóa lớn như than đá hoặc thóc lúa, mà lạm phát đã có mặt lan tràn trên khắp thị trường Việt Nam.

Triển vọng thị trường không rõ ràng

Việt Nam có thể là nước quan trọng nhất trong số các nước đang cố gắng để trở thành mốt Trung Quốc kế tiếp. Các nhà hoạch định chính sách nên nhớ rằng Trung Quốc đã có cuộc đọ sức nghiêm trọng với lạm phát trong cả hai thập niên 1980 và thập niên 1990, trong đó đã kết thúc bằng một cuộc đàn áp tàn bạo và vụ suy sụp tài chính nghiêm trọng trong khu vực. Bắc Kinh giải quyết vấn đề lạm phát bằng cách tạo ra năng xuất dư thừa thật lớn và xuất khẩu các số hàng đó vào nền kinh tế thế giới đang phát triển. Thậm chí đặt qua một bên những sự phá hoại về môi trường, tùy chọn này không phải điểm mà Việt Nam đang có hiện nay.

Các lựa chọn tốt nhất có sẵn gần như không hấp dẫn: cho phép doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thất bại. Việt Nam đã bị kẹt trong ‘tiếng thoái lưỡng nan’ bởi mong muốn nâng cao tư thế các doanh nghiệp nhà nước. Vì các doanh nghiệp này hoạt động rất kém hiệu quả nên thường xuyên yêu cầu có thêm sự hỗ trợ ngân sách và vốn vay của nhà nước. Điều này đã làm suy yếu chính sách tài chính của nhà nước, và tạo nghi ngờ về sự ổn định của hệ thống tài chính tại Việt Nam.

Thế giới khuyến khích rằng Hà Nội nên năng động hơn nữa trong việc điều hành nền kinh tế, bỏ bớt các gánh nặng doanh nghiệp nhà nước và cho phép khu vực tư nhân dẫn đầu nền kinh tế. Hơn nữa, việc chuyển đổi cũng sẽ làm chậm lại mục tiêu tăng trường GDP của Việt Nam.

Nếu sự hy sinh chính trị là điều không thể, thì nền kinh tế Việt Nam có thể phải đối mặt với nhiều khó khăn đáng kể trong thời gian tới. Quý đầu tiên tăng trưởng đã được báo cáo vào cuối tháng ba, ở mức 5,4%, rõ ràng chậm hơn so với Quý IV năm ngoái.

Việt Nam đang cần ngoại tệ. Năm 2010 nhập siêu đã gần bằng với kích thước của dự trữ ngoại tệ vào cuối năm, có nghĩa là trong một năm nữa Việt Nam có thể hết tiền để sử dụng.3 Như đã thấy vào năm 1997, triển vọng hết ngoại tệ có thể không chỉ làm giảm tăng trưởng và làm tăng thất nghiệp, nhưng điều này còn kích hoạt một cuộc khủng hoảng tài chính.

Tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam hiện nay cần quan tâm, giả quyết một cách nghiêm túc và bền vững. Hà Nội cần ưu tiên sửa chữa những sai lầm của mình và khuyến khích một số biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô. Họ có thể không có khả năng làm được điều này và thực hiện tự do hóa nền kinh tế cùng một lúc. Điều này có khả năng, và thậm chí hợp lý, là các cải cách đang trực tiếp đi ngược lại với tiêu chuẩn TPP của Hoa Kỳ.

Khuyến nghị

Hoa Kỳ nên tiếp tục với các mục tiêu TPP càng nhanh càng tốt mà không cần quan tâm về khả năng của Việt Nam trong việc ký kết hoặc thực hiện các thỏa thuận về những điệu kiện cần thiết. Điều này áp dụng để đối phó với phương thức dự kiến ​​trong tháng mười cũng như trong các hiệp định cuối cùng.

Nếu Việt Nam không thể tham gia TPP, một đề nghị rõ ràng nên đưa ra đề họ có thể thực hiện những cải tiến cần thiết, đặc biệt là trong việc giảm sự hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhà nước và cho phép mở rộng khu vực kinh tế tư nhân.

Hoa Kỳ nên giúp Việt Nam sửa chữa nền kinh tế và, cuối cùng, giúp đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt trong TPP nhằm tự do hoá nền kinh tế. Các cơ quan của Mỹ có thể hỗ trợ Việt Nam trong việc cải thiện số liệu thống kê và tăng cường tính minh bạch. Với vai trò của đồng đô la cũng cần có thêm sự phối hợp giữa Bộ Tài Chính Hoa Kỳ và Bộ Tài chính Việt Nam.

Hoa Kỳ bao gồm cả Việt Nam trong các cuộc đàm phán TTP là điều đúng và cần thiết. Nhưng lợi ích của Mỹ vẫn là giúp Việt Nam vượt qua các khó khăn hiện tại và giúp họ nhận ra nhiều tiềm năng khác. Tuy nhiên, Việt Nam phải ra những quyết định đúng đắn và kịp thời để thực hiện các cải cách cần thiết. Nếu không thể làm như vậy một cách kịp thời, thì TPP nên tiến về phía trước mà không cần có Việt Nam tham gia.

Tiến sĩ Derek Scissors và Walter Lohman
Nguồn: The Heritage Foundation

Tiến sĩ Derek Scissors là nghiên cứu viên chuyên về chính sách kinh tế ở châu Á và Walter Lohman là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Châu Á tại Heritage Foundation.

[1] Taipei Times, “Investors Looking to Long-Term Promise of Vietnam,” April 25, 2011, pp. 1–2, at http://www.taipeitimes.com/News/biz/archives/2011/04/25/2003501606 (May 3, 2011).

[2] Bloomberg, “Vietnam Needs to Reduce Dollar’s Use in Economy, ADB Aide Says,” April 6, 2011, at http://www.bloomberg.com/news/2011-04-06/vietnam-needs-to-reduce-dollar-s-use-in-economy-adb-aide-says.html (May 3, 2011).

[3] Economics Newspaper, “Vietnam: Economic Growth of 5.4% in Q1,” at http://economicsnewspaper.com/world-economics/vietnam-economic-growth-of-5-4-in-q1-6256.html (May 3, 2011).

TCPT46 – Tự do sáng tạo nghệ thuật tại Việt Nam
Download TCPT46 – Bản in (7.6MB)
Download TCPT46 – Bản thường (4MB)
Download TCPT46 – Bản mini (2.7MB)

Đọc thêm …

Advertisements
Posted in: Kinh tế