Những sai lầm học sinh thường mắc khi tiếp cận thơ trung đại – TCPT số 46

Posted on Tháng Sáu 16, 2011 bởi

0



Linh Sơn, CTV Phía Trước

Thơ trung đại Việt Nam là mảng tinh túy của văn hóa dân tộc, nhưng để giúp học sinh tiếp cận và hiểu sâu sắc không phải là điều dễ dàng. Do đó có nhiều nhẫm lẫn trong việc cảm thụ mảng văn học này nếu người dạy không chịu khó cung cấp một cách bài bản cho các em hệ thống nguyên lý và đặc trưng thi pháp văn học trung đại.

Theo quan điểm lí luận văn học hiện đại mà ta tiếp thu từ Liên Xô, thơ được đưa vào phương thức trữ tình. Còn theo đặc thù văn hóa Á Đông mà ta chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc thì trước hết thơ là dùng để nói chí (thi dĩ ngôn chí). Vậy thì cái cốt lõi trong một bài thơ trung đại Việt Nam là bộc lộ cảm xúc hay chí hướng, hoài bão? Rõ ràng chúng ta nên tôn trọng nền tảng văn hóa Á Đông. Bởi khó mà tìm cho ra được chất trữ tình trong bài Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu? Dù biết rằng thơ trung đại không thiếu chất trữ tình, nhưng tinh thần thi dĩ ngôn chí mới là nguyên lý tối thượng mà thơ trung đại phải tuân theo. Đọc bất kì bài thơ nào của Nguyễn Trãi ta cũng sẽ thấy được điều đó. Lúc này, đem tiêu chí của Liên Xô vào áp đặt đôi khi sẽ gặp sự khập khiễng.

Mặt khác, học sinh thường nhầm lẫn giữ nguyên lý thi pháp cấu trúc và nghệ thuật ngôn từ trong bài thơ. Khi phân tích đến câu 3, 4 trong bài thất ngôn bát cú Đường luật các em hay có cách viết khuôn sáo là chỉ ra nghệ thuật đối: đối thanh, đối ý. Thật ra đó là một nguyên lý bắt buộc, dường như trở thành một cái khung hình thức mặc định, là quy tắc hình thức tối thiếu mà bất kì một bài thơ thất ngôn nào cũng phải đảm bảo. Trong khi nghệ thuật ngôn từ thi ca là những khám phá độc đáo, những biểu hiện phá cách, lệch chuẩn hay mới lạ trong việc thể hiện nôi dung tư tưởng bài thơ. Do đó không có cái gọi  là nghệ thuật đối. Bởi phân tích theo cách đó thì bất kì bài thơ thất ngôn Đường luật nào cũng sẽ có sự lặp lại nghệ thuật một cách khuôn sáo.

Một điểm khác, học sinh thường không nắm được nguyên lý tượng trưng trong thơ cổ. Khi phân tích bài Cảnh ngày hè các em thường có cách hiểu ngây thơ là Nguyễn Trãi đang ngồi ngắm cảnh, rồi lấy bút tả lại. Cách hiểu này có vẻ không sai, nhưng nó rất ngô nghê. Bởi quy luật của thơ Trung đại là tượng trưng. Nghĩa là vận dụng toàn bộ những chất liệu hình ảnh, màu sắc từ thiên nhiên để cấu tạo nên một bức tranh tạo vật nào đó. Đó là cảnh được chế tác từ kinh nghiệm, từ sự hồi quang của kí ức chứ đâu cần nhà thơ phải ngồi đó, để cảnh lồ lộ ra trước mắt rồi lấy bút tả thực. Nhà thơ chỉ mượn việc tái dựng lên hình ảnh thiên nhiên để phóng chiếu một cái gì đó trong tâm tư mình.

Cảnh ngày Hè
Nguyễn Trãi

“Rồi hóng mát thuở ngày trường
Hoè lục đùn đùn tán rợp gương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

Thơ trung đại không bao giờ có chuyện tả cảnh thuần túy. Thực ra chẳng có cảnh nào trước mắt cả, đó chỉ là những biểu tượng được cấu thành từ tâm thức văn hóa như là một sự quy ước. Lấy hòe, sen, thạch lựu để Nguyễn Trãi ám chỉ mùa hè. Cảnh xuất phát trong trí tưởng tượng. Hình ảnh thiên nhiên trong thơ là chất liệu được dùng làm bệ phóng hướng đến tâm hồn con người. Bởi người Á Đông luôn quan niêm con người trong sự ứng chiếu đồng nhất, nép mình vào vũ trụ. Bảo thơ Trung đại tả cảnh là sai lầm. Đó là cách nói hiện đại của văn học tự sự sau này.

Học sinh thường đem quan điểm chung chung của thơ ca hoặc tiêu chí của thơ hiện đại để áp đặt vào thơ trung đại. Từ đó dẫn đến những nhầm lẫn, không bao giờ cảm thụ được đúng giá trị nghệ thuật một bài thơ trung đại theo đúng đặc trưng thể loại. Trong khi, chương trình dạy Ngữ Văn lại không có bài nào hướng đến hình thành cho học sinh hệ thống tri thức về thi đặc trưng thi pháp mảng văn học này một cách căn cơ. Thiếu hụt này rất cần sự quan tâm, bổ khuyết thêm tri thức cho các em từ các thầy cô.

Xuất dương lưu biệt
(Phan Bội Châu –
潘佩珠)

出洋留別

生為男子要希奇,
肯許乾坤自轉移。
於百年中須有我,
起千載後更無誰。
江山死矣生圖汭,
賢聖遼然誦亦癡。
願逐長風東海去,
千重白浪一齊飛。

Sinh vi nam tử yếu hy kỳ
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di
Ư bách niên trung tu hữu ngã
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy
Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si
Nguyện trục trường phong đông hải khứ
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.

Lưu biệt khi xuất dương
(Người dịch: Tôn Quang Phiệt)

Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở há không ai ?
Non sông đã mất, sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài
Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

L.S.
© 2011 Tạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚC

TCPT46 – Tự do sáng tạo nghệ thuật tại Việt Nam
Download TCPT46 – Bản in (7.6MB)
Download TCPT46 – Bản thường (4MB)
Download TCPT46 – Bản mini (2.7MB)

Đọc thêm …

 

Advertisements