Trường mộng một thuở xóm bình khang – TCPT số 46

Posted on Tháng Bảy 1, 2011 bởi

0



Hồng Hà & Ngọc Cầm, TCPT số 46

Theo sử sách cũ ghi lại, hát ả đào (ca trù) đã có từ thời đầu nhà Lý. Ban đầu, hát ả đảo có tên là hát cửa đình, thể hiện các nghi lễ tại chốn cửa đình. Trong xã hội cũ trọng thần quyền, đình làng là nơi thờ thành hoàng để ghi nhớ công đức và cầu an, cầu phúc cho dân làng. Trong ngày lễ thần hoàng, lễ hội và đám rước được tổ chức, thể hiện rõ trong hát cửa đình (cửa đền) của giáo phường khai thác từ nghi lễ dân gian do các ả đào trình diễn để tế thần và chúc mừng dân làng.

Ca nữ bấy giờ đều gọi là ả đào, nhạc công gọi là kép và  cả hai đều được đào tạo trong các giáo phường. Năm 1025, Lý Thái Tổ đã công nhận giáo phường và đặt ra cục quản giáp, người đứng đầu có quyền hạn quản lý mọi mặt sinh hoạt tinh thần và vật chất của giáo phường. Hầu hết các tỉnh thành đều có giáo phường trong thời nhà Lý. Như Thăng Long xưa, vốn là chốn tập trung nhiều ca lầu nổi tiếng, có các thôn chuyên hát ả đảo gọi là thôn Giáo Phường, tổng Tả Nghiêm (sau đổi là Kim Liên) là đất cũ của các khu vực, các Phố Huế, Trần Xuân Soạn, và Mai Hắc Đế ngày nay thuộc Cựu Lâu, tổng Hương Túc (sau đổi là Đồng Thọ) cũng thuộc huyện Thọ Xương, tức đất cũ của các phố Lê Lai, Lý Thái Tổ, Tràng Tiền, Hàng Khay ngày nay. Tại số nhà 83 Phố Huế liền bên cạnh rạp chiếu bong Đại Nam ngày trước có đền thờ tổ ca công, đền giáo phường, di tích nay chỉ còn có 3 chữ “Giaso Phường từ”, trên cổng có đôi câu đối đắp nổi ở hai cột trụ gạch to, nhắc lại tên thôn cũ:

“Thần công hách trạc, tương phù giáo địa giang sơn cựu

Phật lục huy hoàng, ngật lập phường từ cảnh sắc tân”

(Thần công vang dội phù trì đất Giaso non sông cũ

Phật lục rõ ràng, xây đắp đền Phường cảnh sắc nay)

Hiện nay ở Hà Nội còn nổi tiếng nhất là giáo phường Lỗ Khê. Từ nội thành Hà Nội, ta đi qua cầu Đuống về phía Đông Bắc chừng 30km, sẽ đến mảnh đất Hà Lỗ – Lỗ Khê. Vốn dĩ làng nằm trên dải than bùn giàu có nên có tên nôm là tổng Rỗ. Ở đây cũng là vết tích cầu Bài, tương truyền là nơi hai ông Dực và Minh tức Thiên Uy và Minh Uy dàn quân đánh giặc mũi đỏ và giặc Ân vào đời Hùng Vương thứ 6. Nay còn đền thờ ở thôn Hà Lỗ. Cách đây 550 năm, Lỗ Khê đã trở thành cái nôi ả đào truyền thống mà nguồn gốc được ghi chép trong thần phả “Sự tích tổ sư Giaos phường” bằng chữ Hán do Đông Các học sĩ Đào Cử soạn tháng Giêng năm Hồng Đức thứ 7 năm 1476.

Tương truyền, tướng quân Đinh Lễ theo nghĩa quân Lam Sơn có nhiều công trạng nên được vua Lê Thái Tổ ban đất phong thưởng hậu hĩnh. Ông lấy vợ tên Trần Minh Châu gia truyền thi lễ. Một đêm bà nằm mộng thấy con rắn xanh từ đất chui ra bò thẳng vào bọc của bà, từ đấy bà có mang, đến ngày mồng 6 tháng Tư năm Qúy Tỵ, bà sinh ra một con trai, diện mạo khôi ngô tuấn tú. Tướng quân Đinh Lễ cho là vợ sinh quý tử, đặt tên con là Dự. Năm Đinh Dự 12 tuổi, chàng đã bộc lộ thiên tư đĩnh ngộ, đặc biệt tinh thông cầm kỳ thi họa, xướng ca đàn phách hơn người.

Nhân ngày xuân, Đinh Dự dạo chơi ở phủ Thuận An, đến trang Đông Cứu là nơi có chùa Thiên Thai nổi tiếng, tình cờ gặp một cô gái chim sa cá lặn, tự xưng là Đường Hoa tiên hải ở động Nga Sơn – Thanh Hóa. Đinh Dự say mê nàng quá, liền đưa nàng về Lỗ Khê thôn kết duyên cầm sắt. Năm ấy, vua Lê Thái Tổ ốm nặng, nhưng khi nghe vợ chồng Đinh Dự múa hát cho nghe, vua liền khỏi bệnh. Hai vợ chồng được mời dự yến trong cung và nhận tước phong. Nhưng ngay sau bữa tiệc, Đường Hoa cho biết nàng đã mãn hạn dưới trần và muốn bái biệt Đinh Dự. Nàng đọc một bài thơ rồi sau đó biến mất trong không trung. Đinh Dự vô cùng đau xót, bèn từ tạ nhà vua, đọc một bài thơ rồi cũng biến mất. Đó là ngày 13 tháng 11, thần phả không ghi năm hai vợ chồng cùng hóa. Vua Thái Tổ cảm công đức hai vợ chồng, liền triệu giáo phường các nơi lên kinh rước “mỹ tự” vua ban về lập bàn thờ và tự cho cấc xã hàng năm, tiền xuân mở hội kỳ phúc.

Tới triều Lê Thánh Tông, nhà vua lại gia phong cho Đinh Dự là Thanh xà đại vương và vợ là Mãn Đường Hoa công chúa. Từ đó, trang Lỗ Khê thuộc đạo Kinh Bắc trở thành làng tổ của hát ả đào. Nội quy của giáo phường Lỗ Khê rất khắt khe theo các chuẩn mực quy tắc Nho giáo. Vì quan niệm cổ hủ xưa thành kiến khinh miệt “xướng ca vô loài” nên giáo phường Lỗ Khê từ xưa vẫn giữ gìn thanh danh, không để ai chê trách, khiến cho câu nói cửa miệng ác độc của thế gian ấy không còn có đất sống.

Đào kép là những người học tự nguyện, có tính chuyên nghiệp nhưng hoạt động lại nghiệp dư. Hàng ngày họ vẫn làm ruộng, chăn tằm, dệt vại hoặc buôn bán vặt. Tối về, mới đến nhà ông trùm để học hoặc biểu diễn ở đình làng. Sau này, việc hát cũng có tiền thưởng, tiền công nhưng đào kép không tính toán nhiều vì đó đã thành lệ. Tiền thù lao của địa phương phong bao tặng cả cho quản giáp, sau đó quản giáp sẽ phân chia hợp lý.

Cuối đời nhà Nguyễn là thời kỳ sóng gió của nghề hát ả đào. Các nhà hát ở thành thị mở ra quá nhiều, tạo nên một lớp đào rượu thậm chí không hề biết phách, biết hát, đã dung túng tục hóa và làm phi tiếng nghệ thuật ả đào. Nhưng Lỗ Khê vẫn có những tay đàn cự phách bấy giờ như các ông Nguyễn Thế Ban, Nguyễn Văn Tiểu… và các danh ca như các bà Nguyễn Thị Diêm, Nguyễn Thị Năm, Nguyễn Thị Văn, Nguyễn Thị Đào… đến nay dân làng vẫn lấy làm tự hào. Một số các nhà nghiên cứu tổng kết các giai đoạn của nó là: ca trù nhạc (gắn liền với cung đình, đền miếu); ca trù thơ (ở các dinh quan, giáo phường), và  ca ca trù rượu (ở các cao lâu, tửu điếm).

Tuy nhiên, đầu thế kỷ 20, các ca lầu ở thành phố trở thành chốn lui tới của các văn nhân tài tử nổi tiếng. Họ cầm phách, cầm chầu…., còn các ca nương thì đàn hát. Quang cảnh giao duyên qua lời thơ tiếng nhạc ấy đã đi vào các tác phẩm văn học hoặc các trang hồi ký của các nghệ sĩ lớn thuở bấy giờ như Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải, Doãn Kế Thiện, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Nguyễn Bính, Văn Cao, Đinh Hùng…

Ảnh: songlo.com

Nhà văn Vũ Bằng đã từng làm một cái so sánh thú vị về hai thú chơi nổi tiếng đất Khâm Thiên bấy giờ: “Chẳng biết người ăn thuốc nằm bên những cái bàn đèn thích thú ra sao; riêng tôi thấy rằng cái nhà hát đối với nhà văn, nhà báo nó sống động hơn tiệm hút. Nằm cạnh bàn đèn, người viết văn viết báo nhắm mắt lại lơ mơ, thỉnh thoảng lại vùng dậy kéo một hơi lúc bồi tiêm đưa cái dọc tẩu kề vào miệng. Đi cô đầu, khác thế: người ta cười đùa, trò chuyện vui nhộn hơn nhiều, mà lắm hôm lại tức cảnh tạo nên những câu mưỡu, bài hát nói hay những vần thơ bát cú hoặc lục bát hay đáo để. Thực tình đến bây giờ cố moi trí nhớ, tôi chưa thấy có nhà văn nhà báo đất Bắc nào mà lại không ra vào nhà hát cô đầu.”

Nổi tiếng đất Hà Thành lúc ấy có thể kể đến các tụ điểm Ngã Tư Sở, Khâm Thiên, Vạn Thái, Gia Lâm, Gia Quất, xóm chùa Hưng Ký…

Tài liệu của Phạm Duy chup năm 1952. Nguồn: vietbao.vn

Sau gần một thế kỷ người ta mải mê chiến đấu và lao động, giờ mới nhớ lại thú chơi tao nhã thuở xưa thì e rằng cái thần chẳng thể được như trước nữa. Nhiều “Câu lạc bộ ca trù” mọc lên mà nổi tiếng nhất là “Câu lạc bộ ca trù Thăng Long” hay tụ ở đền Bích Câu và “Câu lạc bộ ca trù Thái Hà” hay tụ ở đình Giảng Võ. Song, tiếc thay, những buổi sum vầy giữa giai nhân – tài tử giờ chỉ còn là “một thời vang bóng”. Chẳng biết nên kết lại trường mộng về thuở yên hoa thế nào đây? Xin mượn lại bài hát nói của nhà thơ Vũ Hoàng Chương như lời tế các bậc tài danh thuở trước:

(Mưỡu):

Từ phen song nước gieo neo

Mấy hoa tan tác mấy bèo nổi trôi

Thú xưa còn bấy nhiêu thôi

Hồn thi nhân với giọng người danh ca

(Khổ đầu)

Mặt nhìn mặt còn ngờ trong giấc mộng

Phải rằng đây vang bong một thời xưa

Gác Cuồng Ngâm thưở ấy họp bình thơ

Người trong cuộc bây giờ đâu nhạn cá

(Khổ giữa)

Giai nhân hoàn bội quy trường dạ

Danh sĩ phong trần tẩu mỹ nhiêm

Trải tang thương cùng đau đớn nỗi niềm

Nhịp sênh phách lại càng thêm gợi nhớ

(Khổ xếp)

Lệ trên tiệc những hơn người chan chứa

Xớt cho nhau mang lấy chữ Tài chi

Đâu dây chợt vẳng tiếng Tỳ…

© 2011 Tạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚC số 46

TCPT46 – Tự do sáng tạo nghệ thuật tại Việt Nam
Download TCPT46 – Bản in (7.6MB)
Download TCPT46 – Bản thường (4MB)
Download TCPT46 – Bản mini (2.7MB)

Đọc thêm …

Advertisements