Những ngộ nhận về văn chương – Nhà văn, anh là ai? – TCPT số 47

Posted on Tháng Bảy 6, 2011 bởi

3



Linh Sơn

Phía Trước: “Nhà văn khác với các phóng viên báo chí, nhà văn không đi săn tin. Nhà văn không phải là nhà sử học không cần ghi chép các sự kiện một cách có hệ thống. Anh ta cũng không nên bị một lý luận nào áp đặt trong đầu, dựa hơi vào quan điểm chỉ đạo có sẵn. Anh ta suy nghĩ độc lập hoàn toàn và không bao giờ viết theo đơn đặt hàng, có quan điểm diễn dịch sẵn. Cái trước hết làm nên tố chất của nhà văn không phải là việc anh ta mô phỏng hiện thực cuộc sống thế nào. Cái làm nên linh hồn của tác phẩm văn chương là cách nhìn, thái độ của nhà văn trước cuộc sống được tái hiện, chứ không phải bản thân cuộc sống.”

Trong một lần trả lời phỏng vấn, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp từng khẳng định rằng nhà văn là người dễ bị hiểu lầm nhất. Hiểu lầm về cái gì? Đó hiển nhiên không phải chỉ là vấn đề bó hẹp trong phạm vi tác phẩm. Vậy thế nào mới là hiểu đúng? Khó mà có một đáp án tuyệt đối được chấp nhận cho mọi trường hợp, nó còn tùy vào quan niệm của mỗi người. Nhưng có một điều tưởng chừng như thừa thãi nếu đề cập đến nhưng thực chất nhiều kẻ vẫn lúng túng không biết câu trả lời, dù chỉ là lời tự nhủ với chính mình: Nhà văn – Anh là ai? Và thường thì những tay bồi bút hay có những câu trả lời na ná kiểu này: Vâng! Tôi là nhà văn, là người thư kí trung thành với thời đại, là nhà nhân đạo lớn luôn thương khóc những kiếp người…

Khoan hãy khóc cho ai. Hãy bắt chước Lý Bạch trò vứt bút và khóc cho chính mình trước đã nếu anh còn có ý thức tự trọng và lòng đam mê nghệ thuật thành khẩn. Anh có thể dùng quyền lực hay tiền bạc mua cho mình những danh xưng mỹ miều nhất cõi trời đất này nhưng tuyệt đối đừng bao giờ hoang tưởng anh là nhà văn.

Xin tiếp thêm lời của Nguyễn Huy Thiệp: Vấn đề đáng lo của nhà văn không phải là chuyện người ta không hiểu mình mà là phần đông trong số họ còn hiểu lầm về bản thân mình và công việc mình đang làm. Hay nói cho đúng chỉ một số ít trong những kẻ cầm bút là nhà văn đích thực. Hãy trả lời đi: Nếu anh là nhà văn thì anh là ai!?

Giá như văn chương được tự do vươn đến những chân trời nhân văn tuyệt cùng không giới hạn và không bị ràng buộc bởi quyền lực của những bộ óc thiển cận và những tấm lòng nhiệt thành nhưng vô học thì chúng ta cũng không cần thiết lắm để đặt ra câu hỏi đó. Người Việt Nam vẫn thường tự hào mình là đất nước của văn chương, nhạc, họa. Và một thảm họa đã xảy ra: người người làm thơ, nhà nhà làm thơ, thơ tràn lan khắp mọi nẻo đường.

Nguyễn Huy Thiệp trong một bài tiểu luận (in trong quyển Giăng lưới bắt chim) đã phàn nàn về điều này, chao ôi văn chương ở Việt Nam chưa bao giờ bị hạ thấp và sỉ nhục như hiện nay bởi tình trạng sản xuất bừa phứa. Những thành phẩm của quá trình hợp tác xã tư duy trung bình cộng đó có khác gì cơm bình dân, nhà nghỉ bình dân (chữ của Nguyễn Huy Thiệp) và không bao giờ đạt đến một đẳng cấp thượng thừa ngoại hạng. Truy ra thì có muôn hình vạn trạng những nguyên do, nhưng chắc chắn không ngoài sự thật là những tay nhà văn giả hiệu đó không biết nội hàm của hai chữ nhà văn (bao hàm cả nhà thơ). Tôi rất tâm đắc với cách nói của Nguyễn Huy Thiệp, thà là cứ viết thế này cho cười vỡ bụng mà bớt thấy tủi hổ với tiền nhân:

…Anh đi chiến dịch Plei –

– ku dài dằng dặc biết ngày nào ra…

(Bút Tre)

Khổng Tử từng dạy các học trò của mình làm người phải đạt được hai chữ Chính danh. Trong tình trạng có lắm kẻ loạn ngôn ngày nay thì lời dạy ấy càng sáng thêm giá trị. Những tay nhà văn quanh năm suốt tháng chỉ biết làm theo chỉ thị, thông tư, làm cờ xí gióng trống, thổi kèn ca ngợi đủ trò theo đơn đặt hàng thì chỉ đáng gọi là một loại Trương Chi thời đại mới hay kiểu chú Hoạt tôi (trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp). Không! Nhà văn không phải là con rối để mua vui cho những kẻ có quyền lực. Nhà văn càng không phải là anh thư kí ngô nghê khờ khạo biến văn chương làm tôi mọi cho hiện thực một cách thật thà tội nghiệp! Và một điều tôi ghét cay, ghét đắng: nhà văn không phải là những nhà nhân đạo giả vờ chuyên làm trò thương vay khóc mướn…Dù anh có tuyên ngôn và núp bóng dưới những mỹ từ rất bốc anh cũng không thể dối lừa được công chúng và qua mặt được sự đào thải của thời gian. Nhà văn – Anh là ai?

Khó có một định nghĩa rõ ràng. Bất kì nhà văn nào, trước khi dấn thân vào cái nghiệp cay đắng vinh nhục đủ điều này đều cũng đã từng là một độc giả rất “chuyên nghiệp”. Nghĩa là anh ta phải đọc, và đọc thật nhiều hơn những người bình thường. Và đương nhiên là năng lực lĩnh hội văn chương của anh ta sẽ sâu sắc hơn người khác. Chưa nói đến khâu sáng tác, nhưng tôi chợt có một phán đoán thế này để xem một kẻ cầm bút bất kì có phải là nhà văn hay không. Tôi sẽ hỏi anh ta có đọc qua bài thơ Tống biệt hành của nhà thơ Thâm Tâm hay chưa? Nếu chưa thì tôi sẽ đọc cho anh ta nghe bài thơ đó:

Đưa người, ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy

Một giã gia đình một dửng dưng…

-Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,

Chí nhớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Ta biết người buồn chiều hôm trước,

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

Một chị, hai chị cũng như sen,

Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Ta biết người buồn sáng hôm nay:

Giờ chưa mùa thu tươi lắm thay

Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc

Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay.

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say.

Bài thơ thật hay! Dĩ nhiên. Nhưng vấn đề là anh hãy trả lời thử xem, nếu anh muốn khẳng định mình là nhà văn hay sẽ là nhà văn: Nhân vật ra đi trong bài thơ này là ai? Anh ta đi đâu? Và, sẽ có rất nhiều người đồng thanh trả lời thế này: Anh ta là một chí sĩ cách mạng! Anh ta ra đi vì nghĩa lớn, đi làm cách mạng… Tôi cũng đã từng nghe vài tiến sĩ văn chương ở Việt Nam dè bỉu rằng: Người đi ừ nhỉ người đi thật – Đi thật mà không biết đi đâu. Và họ kết luận: Lý tưởng bài thơ thật mù mờ.

Đây là một kết luận vô duyên nhất, phản văn chương nhất. Tại sao không để hình tượng thơ “người ra đi” cứ mông lung, bàng bạc đẹp đến nao lòng ấy vẫn cứ lung linh vẻ mơ hồ của nó? Từ trên nền hiện thực cuộc sống xô bồ, các thi sĩ “cất công, trải lòng” đi tìm những cảm xúc thăng hoa khó nắm bắt, vừa xa vừa gần, thoáng hiện mà lại ẩn để làm say lòng người thì người ta lại khư khư bắt nó phải quay về cái sự thật trần tục. Hai chữ hiện thực nghe thật là ỡm ờ và thiệt thà làm sao. Những bộ óc thiệt thà luôn quy chiếu thơ ca về một công thức hiện thực nào đó, bắt nó có một đáp án rõ ràng, trong khi một trong những tố chất làm nên tính diễm lệ, say lòng của thơ ca là cảm xúc mông lung, khó hiểu. Tại sao người ta cứ đem quan điểm phản ánh luận, lấy tiêu chí hiện thực xã hội ra để phán xét, mổ xẻ văn chương mà không đặt nó trong tâm thức văn hóa? Nói như thầy Đỗ Lai Thúy, văn chương trước hết phải được nhìn xuyên qua bức màng văn hóa. Chính cái tâm thức chí nam nhi, chí hồ thỉ tang bồng của người đàn ông Á đông xưa nay đã làm mạch nguồn cảm xúc cho bài thơ trên. Bài thơ phảng phất chất cổ điển của thể từ trong văn học cổ, cái hay của bài thơ không phải ở chỗ hình tượng “người ra đi” về đâu. Mà nó hay ở cái cảm xúc  khắc khoải, vừa dứt khoát mà lại có phần luyến tiếc của kẻ đi và người  đưa tiễn. Là cái khí khái của người đàn ông có chí cao xa, không muốn bó thân trong lũy tre làng, quyết đi xa tìm nghiệp lớn. Cảm hứng ấy tuyệt mĩ, vữa phảng phất buồn vừa hoành tráng biết bao. Ấy thế mà nhiều người phải bắt anh ta “đầu quân” cho cách mạng! Thế rồi mọi người sẽ tranh cãi mãi, khư khư cái quan điểm giáo điều ấy cho đến khi nào vỡ nhẽ ra, Thâm Tâm viết bài thơ này vài năm trước cách mạng tháng Tám. Chính thầy Trần Đình Sử cũng phản đối cách hiểu giáo điều và máy móc này trong một bài viết trên báo Văn học và tuổi trẻ.

Cũng bởi vì không đặt văn chương trong tổng thể đời sống văn hóa, mà cứ ghì nó vào hiện thực xã hội nên một thời người ta phê phán câu nói của Phạm Quỳnh: Truyện kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn. Họ phản biện thế này: Thế ra hồi trước khi có Truyện Kiều thì dân ta không có nước! Thật nông cạn hết chỗ nói. Tại sao không hiểu rằng đó là một cách nói? Truyện Kiều là kết tinh tuyệt mĩ của ngôn ngữ mẹ đẻ. Tại sao kẻ thù đồng hóa ta, dạy ta học tiếng của chúng? Bởi quên tiếng mẹ đẻ là mất gốc. Truyện Kiều trong mắt cụ Phạm Quỳnh xứng đáng là một quốc bảo minh chứng hùng hồn rằng tiếng nói của ta không chỉ không mất đi mà còn thăng hoa đến đỉnh điểm. Truyện Kiều là minh chứng cho tinh hoa văn hóa của dân tộc. Một dân tộc có tiếng nói, một dân tộc có văn hóa đỉnh cao thì không ai có thể làm cho mất gốc, mất nước. Còn những kẻ phê phán Phạm Quỳnh, chỉ hiểu tầm thường Truyện Kiều nổi tiếng bởi giá trị hiện thực và nhân đạo. Cứ tán hưu tán vượn say sưa, họ chẳng bao giờ biết Truyện Kiều là gì, và tại sao tác phẩm ấy bất tử. Chỉ khi nào đặt nó trong đời sống văn hóa của người Việt thì mới nhìn ra giá trị đích thực của Truyện Kiều!

Những nhà văn đích thực không hề thoát li khỏi thực tại, nhưng trên đống hiện thực cuộc sống xô bồ đó họ luôn biết cách chắt lọc, tinh luyện để thăng hoa nó trở thành văn chương đúng nghĩa. Những nhà văn giả hiệu thường hay khoe khoang rằng anh ta viết ra từ một sự kiện cuộc sống có thiệt nào đấy, và dựa hơi vào quan niệm phản ánh luận, đặt cho tác phẩm mình một điểm rơi an toàn.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã giễu nhại một cách thâm thúy đại tài đối với các nhà văn (và cả các nhà nghiên cứu) có cách hiểu con mà cực đoan về cái gọi là hiện thực trong văn chương bằng truyện ngắn Cún. Truyện kể về một nhà văn nọ có một người bạn là nhà phê bình văn học nổi tiếng. Anh nhà phê bình kể cho nhà văn nghe cuộc đời của cha mình, tên là cún. Không biết anh ta kể những gì, nhưng nhà văn đã hư cấu lại và viết ra truyện ngắn Cún về cha của anh bạn mình. Nói chung đó là một câu chuyện của một cuộc đời bất hạnh, có kết thúc buồn. Nhà văn đem truyện ngắn ấy cho nhà phê bình đọc. Và anh ta phản ứng, không, không cha anh ta ngoài đời không phải như vậy. Ngoài đời ông ấy khác lắm. Và nhà phê bình lấy hình cha mình cho nhà văn xem.

Nhà phê bình ấy thật ngây thơ. Đã đi vào địa hạt của văn chương thì phải bỏ qua tính cụ thể lịch sử và phải chịu quy luật của hư cấu. Cái được gọi là tính chân thực không phải là dựng lại nguyên si cuộc sống bên ngoài, mà là hướng đến bản chất, thiên tính của nó. Bởi thế, với cái tư duy ấu trĩ kiểu đó, nhiều nhà văn cứ hoang tưởng và bày ra những trại sáng tác rất buồn cười. Hiệp hội các nhà văn tỉnh này, thành phố nọ xin xỏ ngân sách nhà nước đi lên Đà Lạt, hay Sa Pa để tìm cảm hứng sáng tác. Sau vài tuần, hay một tháng “dựng trại” trong các khách sạn, ở những khu nghỉ mát, các khu resort hay cắm lều ven rừng, họ in ra hàng loạt các tuyển tập văn thơ của các “vĩ nhân tỉnh lẻ” một cách khí thế.

Cũng bởi quan niệm hiện thực ngô nghê, cứ phải ngắm nghía, sao chép y chang cuộc sống thì mới sáng tác được nên mới có trò “dựng trại sản xuất thơ” hàng loạt kiểu đó. Không! Nhà văn đích thực không phải như vậy! Anh ta cũng lao vào cuộc sống nhưng là một hành động có tính trải nghiệm, dấn thân cả cuộc đời mình và làm một cách âm thầm chứ không đời nào khoa trương làm theo phong trào, với những hành động có tính nghi thức như vậy. Nhà văn khác với các phóng viên báo chí, nhà văn không đi săn tin. Nhà văn không phải là nhà sử học không cần ghi chép các sự kiện một cách có hệ thống. Anh ta cũng không nên bị một lý luận nào áp đặt trong đầu, dựa hơi vào quan điểm chỉ đạo có sẵn. Anh ta suy nghĩ độc lập hoàn toàn và không bao giờ viết theo đơn đặt hàng, có quan điểm diễn dịch sẵn. Cái trước hết làm nên tố chất của nhà văn không phải là việc anh ta mô phỏng hiện thực cuộc sống thế nào. Cái làm nên linh hồn của tác phẩm văn chương là cách nhìn, thái độ của nhà văn trước cuộc sống được tái hiện, chứ không phải bản thân cuộc sống. Do đó, nếu ai muốn nâng cái tiêu chí hiện thực thiệt thà, văn chương phải giống thiệt, giống y chang cuộc sống ngoài đời thì xin hãy đọc lịch sử và báo chí. Và các nhà văn đích thực luôn ý thức được điều đó!

Trong một số công trình đánh giá các sáng tác văn học hiện thực Việt Nam thế kỉ XX, với các tác giả như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… nhiều người hay đưa ra lời bốc kiểu như tác phẩm Chí Phèo, Số Đỏ phản ánh chân thực cuộc sống! Nói là chân thực, cuối cùng lại lấy các thông tin về hoàn cảnh lịch sử ra làm tiêu chí. Cái chân thực ấy chẳng hiểu nó là gì? Đem văn chương đi so sánh đời thực ở góc độ sự kiện thì vứt bỏ nó là vừa! Bởi nói như vậy, việc Tolstoy tốn mấy ngàn trang giấy viết Chiến tranh và hòa bình thì thật ra chỉ cần vài trang sách là có thể tóm gọn lại các sự kiện lịch sử bên trong nó, ông hư cấu ra một cuốn tiểu thuyết đồ sộ làm chi cho phí sức. Cái cần quan tâm là hiện thực tâm trạng, là nhân tâm con người. Cái này thì không thể đo đạc và cũng không thể nói nó chân thực hay không được. Bởi không có tiêu chí rõ ràng. Mấy nhà văn hay tuyên ngôn tôi phản ánh trung thành, chân thực đối với cuộc sống thì mọi người hãy đề phòng, và hoài nghi tố chất của anh ta! Cũng bởi cái tư duy hiện thực đấy mà một thời người ta đã khép tội Vũ Trọng Phụng là bôi nhọ Hà Nội.

Thế nên, tôi rất dị ứng với cách nói: nhà văn là người thư kí trung thành của thời đại. Cách nói này không sai, và đúng với một phương diện nhất định. Bởi dù muốn dù không thì những nhà văn không thể nào thoát khỏi lịch sử. Văn chương của họ rồi sẽ soi mình trong một thời đại nhất định nào đó, muốn hay không muốn, hiện thực là một phần thuộc tính của văn chương. Nhưng phải nói cho rõ, hiện thực là thuộc tính của văn chương, chứ không phài là bản chất, càng không phải là tố chất quyết định giá trị văn chương đích thực. Những bộ óc sùng bái hiện thực một cách cực đoan thường không hiểu điều đó. Cũng có thể nhà văn là người thư kí trung thành của thời đại, hiểu ở một góc độ nào đó. Nhưng nếu các nhà văn biết biết mình là ai, anh ta sẽ vừa dè dặt, vừa khiêm tốn hơn, bởi anh ta hiểu, các nhà báo, các nhà sử học xứng và hợp với danh xưng đó hơn! Hãy trả về cho hai tiếng nhà văn cái ý nghĩa thuần khiết tự nhiên của nó!

Nhà văn là một nhà nhân đạo lớn. Nói nghe có vẻ hay ho. Nhưng không nên lên gân làm gì để người ta ngộ nhận. Chả lẽ những người khác, không phải là nhà văn thì không có lòng nhân đạo? Và hà cớ gì cứ phải là nhà văn thì phải nhân đạo đủ trò. Đừng lạm dụng nó quá mức, nếu không sẽ thành nhân đạo giả vờ, hoặc vô tình biến các nhà văn thành bọn thương vay khóc mướn.

Xưa nay người ta chỉ có ngành (hoặc trường) khoa học xã hội và nhân văn chứ không ai nghe khoa học xã hội và nhân đạo. Nhân đạo chỉ là một phương diện nhỏ của đạo đức, là lòng yên thương, quý trọng, bênh vực con người mà thôi. Đúng! Chúng ta bắt gặp điều đó trong một số tác phẩm lớn. Ta rùng mình khi đọc đến những câu thơ dào dạt yêu thương con người của Nguyễn Du, ta rưng rưng lòng khi chứng kiến hành động hi sinh vì người khác của Jean Van Jean. Nhưng nào phải văn chương chỉ có thế!

Phạm trù nhân văn mới là phạm trù rộng nhất khi nói đến giá trị, hay khuynh hướng của văn chương nghệ thuật. Nhân văn không phải chỉ được hiểu theo nghĩa chiết tự ấu trĩ là làm đẹp con người. Một tác phẩm mang giá trị nhân văn không phải chỉ làm đẹp lòng người (nói rộng ra nó đã bao hàm nhân đạo rồi), mà còn thúc đẩy tư duy con người tiến lên không ngừng. Chính thần thoại Hi Lạp đã được các nhà khoa học cho rằng là khởi nguồn của khoa học kĩ thuật. Bởi trí tưởng tượng siêu phàm của nó đã thúc đẩy các nhà khoa học không ngừng bạo dạn mơ đến những chuyện mà trước đó không ai nghĩ: bóng đèn không dầu mà cháy, động cơ hơi nước…Một tác phẩm nghệ thuật mang giá trị nhân văn không phải chỉ là những lời thì thào, ướt đẫm nước mắt kêu van cho ai. Một bộ phim, hay truyện kinh dị giả tưởng nếu biết khai thác đúng hướng cũng sẽ đạt tính nhân văn. Khi nó đưa ra những thảm họa về môi trường, nó dự báo những con quái vật biến thái do đột biến gen, nó làm ta sợ, để mà nhìn lại và điều chỉnh quá trình lạm dụng khoa học kĩ thuật, tham lam sản xuất, bất chấp môi trường….Văn chương làm người ta sợ để cảnh tỉnh; văn chương thúc đẩy con người từ bỏ cái lạc hậu, ấu trĩ trong tư duy…và rất chính đáng khi văn chương giúp con người giải trí.

Tại sao phải lên gân quá đáng xem văn chương là một cái gì ghê gớm lắm? Cuối cùng bao nhiêu năm nay, nội hàm văn chương đích thực theo quan niệm của người Việt chỉ có vấn đề hiện thực và nhân đạo. Tại sao không nhìn văn chương như là một hiện tượng tinh thần với rất nhiều rất nhiều phương thức cống hiến cho đời sống? Và trong thời đại kinh tế thị trường này, văn chương cũng chỉ là một trong những loại hình giải trí mà thôi. Giải trí không có gì tầm thường thấp kém. Một quyển truyện tranh (hình thức nghệ thuật tổng hợp, nhưng rõ ràng là có tính văn chương) bên cạnh những câu chuyện trẻ con, trong trẻo,  thúc đẩy cho trẻ con tinh thần siêu nhân biết hành động vì cộng đồng. Ý tưởng đó có vẻ phi thực tế, nhưng nó sẽ dần được điều chỉnh, cái thiên hướng tốt của nó là gieo vào tâm thức các em ước vọng sống phi thường và hiệp nghĩa. Những bộ óc giáo điều thường lấy tiêu chí nhân đạo và hiện thực ra để phủi. Bởi họ không hiểu bản thân những quyển truyện tranh siêu nhân ấy rất giàu tính nhân văn. Họ càng không hiểu tại sao với những câu truyện tưởng chừng như vu vơ, trẻ con của Nguyễn Nhật Ánh lại có sức mê hoặc độc giả như thế, tại sao Nguyễn Nhật Ánh bán sách chạy như thế và giàu như thế. Truyện của ông chạm đến một mảng tâm hồn con người một thời mà ai cũng có, nó lại tạo ra một môi trường hiền lành, trong sáng cho tuổi teen vừa giải trí vừa học tập. Những bộ óc giáo điều không tìm thấy giá trị hiện thực và nhân đạo trong những tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh đã được một số trường đại học trên thế giới đưa vào sách. Họ không hiểu hai chữ nhân văn. Họ không hiểu thế nào là văn chương nghệ thuật đúng nghĩa. Bởi thế họ không cho rằng Nguyễn Nhật Ánh, Agatha Christie, Conan Doyle là những nhà văn đích thực để rồi áp đặt cho sáng tác của người ta một khái niệm vô duyên ảnh hưởng từ Liên Xô: Cận văn học. Họ chỉ giới hạn thị hiếu của mình và gặm nhắm mãi Balzac, Gorxki, Nam Cao. Họ cứ khinh bỉ. Nhưng họ làm không được. Còn người ta thì hái ra tiền! Họ chỉ yêu loại văn chương thút thít khóc lóc khoe rằng ta nhân đạo và trung thành với hiện thực.

Nhà văn đích thực trước hết phải là những người hiểu rõ nhất diện mạo và sứ mệnh cũng như cách thức cống hiến của văn chương trong thời đại ngày nay. Có nhà văn thích cảnh tỉnh con người bằng nỗi sợ. Anh ta sẽ viết tiểu thuyết trinh thám, kinh dị hay giả tưởng. Có người đào sâu vào lịch sử để nhận thức lại những vấn đề lỗi thời cũ rích (Nguyễn Huy Thiệp là người đi tiên phong, và thường thì ông bị người ta khép tội là bóp méo lịch sử). Có nhà văn chiếm lĩnh mảng văn chương trong sáng dành cho trẻ con hay tuổi teen. Nhà văn đích thực không ồn ào tuyên ngôn loạn xạ mà âm thầm tìm ra hướng đi riêng hợp gu của mình, âm thầm cống hiến. Họ không biến chữ nghĩa thành giọt lệ. Nước mắt của họ sâu kín và chảy ngược vào tim. Họ là những người suy nghĩ tự do không bị ai áp đặt tư duy.

Nhưng buồn thay! Dù tôi đã cố gắng đi tìm cho mình rất nhiều những định nghĩa thế mà tôi không thể nào trở thành nhà văn được! Tôi cũng không thể đăng kí khóa học nhà văn. Bởi không có trường đại học nào đào tạo ra nhà văn. Trường đại học vĩ đại nhất của nhà văn là cuộc sống (Đặng Thai Mai). Nhà văn anh là ai? Nhà văn anh là ai mà tôi phải đi tìm! Có lẽ hiểu biết của tôi vẫn còn hạn hẹp. Nhưng ít ra tôi tin ở mình một điều, nhìn vào tác phẩm và phát ngôn của những cây bút thời nay, tôi biết ngay anh ta có cần phải xin ngân sách nhà nước tiền hỗ trợ xuất bản tác phẩm hay không!

Đâu là văn chương đích thực…?

Nhà văn anh là ai…?


L.S.

© 2011 Tạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚC số 47

TCPT47 – Những tư tưởng canh tân bị lãng quên
Download TCPT47 – Bản in (5.2MB)
Download TCPT47 – Bản thường (3.2MB)
Download TCPT47 – Bản mini (2.2MB)

Đọc thêm …

Advertisements