Thơ tượng trưng – Mảng nghệ thuật bị lãng quên

Posted on Tháng Bảy 19, 2011 bởi

1



Ngọc Cầm, CTV Phía Trước
TCPT số 47

Xuân Diệu viết rằng, “Chiếc thuyền thơ thả trong biển thời gian, lúc đầu mới hạ thuỷ còn chao lên chao xuống, gió bão từng kỳ làm chòng đi chành lại, cứ cho thăng trầm mỗi đợt là mất hai mươi năm đi, thì trải qua năm đợt hai mươi năm mà vẫn giong lèo, giương buồm phơi phới, như vậy có thể nói được rằng: từ đây vào bất hủ được rồi”. Nói như thế thì cách đây hơn “sáu đợt thăng trầm” một con thuyền thơ mang tên “Chủ nghĩa tượng trưng” đã được hạ thuỷ ở nước Pháp và đến nay vẫn đang tiếp tục cuộc hành trình chinh phục thế giới. Không ai có thể biết nó có thể cập bến vĩnh cửu hay không, dù ranh giới bất hủ nó đã đi qua, nhưng người ta tin chắc một điều: đi cùng con thuyền ấy là vô vàn những sự tin yêu và thán phục. Con thuyền ấy đã từng một lần cập bến ở bên bờ biển Đông, nơi được mệnh danh là Đông Pháp. Ghé thăm chuyến thuyền này có không ít các nhà thơ táo bạo, và họ không quên mang theo về nhà thứ quặng quí hiếm với hi vọng có thể tôi rèn nên những tuyệt phẩm tượng trưng. Trong số những “nhà giả kim” chạy đuổi theo nào Muy-dơ cai quản Thơ tượng trưng, phải kể đến ba nhân vật: Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bích Khê.

Do có tiếp thu những thành tựu, giá trị của của Chủ nghĩa lãng mạn nên ta thấy trong thơ lãng mạn và thơ tượng trưng đều có cấu trúc hai thế giới, nhưng điểm khác biệt giữa chúng là bản chất khác nhau. Nếu như trong thơ lãng mạn người ta dễ dàng nhận ra thế giới hiện thực và thế giới lí tưởng hoá thì trong thơ tượng trưng nổi bật lên là thế giới của hình ảnh thật và thế giới của linh hồn, tinh thần có tính chất siêu nghiệm. Với các nhà thơ tượng trưng, thơ không đơn giản chỉ là sự thể hiện cảm xúc của chủ thể sáng tạo một cách bình thường mà cao hơn, thơ còn phải thể hiện được một thế giới nằm sau thế giới hiện thực, mang đến cho tinh thần một sức mạnh đặc biệt là khả năng nhìn thấy thế giới  không như nó hiện hữu mà chợt nhận ra thế giới với đầy những điều bất ngờ, ngẫu nhiên, cảm tính và cái tinh thần ẩn dấu bên trong. Từ đây, việc khám phá một thế giới bí ẩn, thế giới được nhận ra một cách bất ngờ, bất chợt, gắn liền với tinh thần của vũ trụ đã trở thành mục đích và bản chất của thơ tượng trưng và được nhiều nhà thơ xem là kim chỉ nam cho việc sáng tác của mình. Với một đất nước lấy cái thực làm chuẩn mực, thơ tượng trưng dường như trở thành một món ăn quá ư xa xỉ. Có lẽ vì vậy, cả ba “nhà giả kim” có biệt tài biến bất cứ thứ quặng nào thành vàng ròng đẹp đẽ ấy, người thì bị lãng quên, người thì bị xếp dưới những giá trị tầm thường.

Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương (1916-1976), nhà thơ nổi tiếng với câu “Lũ chúng lạc loài dăm bảy đứa/Bị quê hương ruồng giống nòi khinh.”, được biết đến như một nhà thơ say. Thơ ông đậm chất phương Đông, một phương Đông huyền ảo của cõi mộng mà người ta chỉ có thể lạc vào khi linh hồn thoát xác. Chính những cơn say triền miên ấy đã đẩy thơ ông tới cõi tượng trưng.

Trên lớp sóng vây viền ánh sáng

Con thuyền trăng bạc lững lờ trôi

Đêm nay bánh lái trầm hương lỏng

Không biết ai trêu tháo trộm rồi

(“Lo sợ”)

Một tâm trạng triền miên trong thơ Vũ Hòang Chương, đó là say! Không gian thơ của ông bị bao phủ bởi khói và mây, mà mây có lẽ cũng là một dạng khói. Được biết, sinh thời, Vũ Hoàng Chương nghiện thuốc phiện. Có lẽ khói thuốc phiện đã ám cả vào con chữ trong thế giới thơ của ông.

“Thả chiếc bách không chèo trên bể khói” (Chết nửa vời)

“Một trời nâu ngát khói lung lay/Đôi má huyền thơm động ý say” (Nhớ quê nâu)

Cả cuộc đời của ông có hai tập thơ là “Thơ Say” và “Mây”, nhưng người đọc biết nhiều hơn cả và cũng tiêu biểu cho phong cách của Vũ Hòang Chương thì chỉ có thể là “Thơ Say”. “Thơ Say” chia làm mấy phần: “Say”- “Mùa”- “Yêu”- “Cưới”- “Lỡ làng” – “Lại say”. Ta có thể “định dạng” cấu trúc trên một cách gọn hơn: “Say”- “Tỉnh”- “Lại say”. Để làm rõ hơn cơ chế sinh thành và vận động của cái nhìn thế giới trong thơ Vũ Hoàng Chương, có thể biểu diễn cấu trúc từ vựng của ông theo kiểu khác. Nếu hình dung toàn bộ từ vựng của cả 2 tập thơ là một hình tròn thì Hư Ảnh và các trạng thái tương đồng của nó nằm trong tâm đường tròn, con Ảo và Thực cũng như ngoại vi, phân bổ trên những múi không gian đối xứng nhau qua tâm điểm. Khi con người ở trạng thái Tỉnh, đường tròn đứng im. Khi con người ở trạng thái Say, đường tròn chuyển Động, các múi không gian đan cài vào nhau, các ranh giới bị nhòe đi không còn phân biệt rõ. Nếu đường tròn chuyển động với tốc độ lớn, tức khi đã Điên say, các đường ranh giới mất hẳn. Ảo, Thực hòa vào nhau là một, Hư Ảnh, từ chỗ chiếm diện tích nhỏ nhất bùng nổ thành cực.

“Ta quá say rồi!

Sắc ngã màu trôi…

Gian phòng không đứng vững

Có ai ghì hư ảnh sát kề môi”

Sau 1945, Vũ Hoàng Chương không tham gia Cách mạng. Có lẽ ông không dứt khỏi trời mộng để sống đời sống “ảo vọng” của kiếp người bon chen, tranh đấu được. Và ông bị lãng quên dần. Có thể người ta cố tình lãng quên ông vì không thể chấp nhận được một điều: cho dù có lung linh đẹp đẽ đến đâu thì đó vẫn là thứ thơ ca ngợi đời sống trụy lạc.

Đinh Hùng

Đinh Hùng (1920-1967) là em vợ cũng như là bạn thân của Vũ Hoàng Chương. Tuổi trẻ Đinh Hùng phải chịu nhiều chấn thương tâm lý do cái chết của nhiều người thân: chị gái Tuyết Hồng, chị gái Loan, song thân, của Thạch Lam – người bạn thân thiết nhất, và đặc biệt là của Liên – cô em họ xa mà Đinh Hùng yêu tha thiết. Ông thấm thía cái câu “tài mệnh tương đố” của người xưa, nhưng lại diễn tả nỗi đau ấy bằng một sức mạnh đặc biệt và kì dị. Và điều quan trọng hơn là ứng xử triết học và thẩm mỹ của nhà thơ khi đối mặt với nó. Có lẽ đó là điểm xuất phát để Đinh Hùng đi tìm một thế giới khác – một thế giới tượng trưng và vĩnh cửu.

“Khi miếu đường kia phá bỏ rồi

Ta đi về phía những ánh sao rơi

Lạc loài theo dấu chân cầm thú

Từng vệt dương sa mọc khắp người”

(“Những hướng sao rơi”)

Đinh Hùng là một kẻ chạy trốn văn minh đô thị để dạt tới cõi vĩnh cửu trong thiên nhiên. Nhưng đó không phải thứ thiên nhiên ở thế gịiới thực mà là một thiên nhiên nguyên dã, nơi không-thời gian không còn phân biệt, nơi mọi giá trị trở nên bất biến.

“Chúng tôi gặp nhau bên dòng suối ngọt

Làm đôi người cô độc thuở sơ khai

Nàng bâng khuâng đốt lửa những đêm dài

Ta từng buổi bơ vơ tìm bộ lạc

Nàng là Gái Muôn Đời không đổi khác

Bộ ngực tròn nuôi cuộc sống đương xuân

Ta đến đây làm chủ hội phong trần

Lấy hoa lá kết nên Tình Thái Cổ”

Và ông đã lạc vào thế giới tượng trưng, tựa như Lưu-Nguyễn vào chốn Thiên Thai.

“Chúng ta đến nghe nỗi sầu tinh tú

Những ngôi sao buồn suốt một chu kỳ

Những đám tinh vân sắp sửa chia li

Và sao rụng biếc đôi tay cầu nguyện

Ta tỉnh hay mơ? Chiều nay trăng khép Hàng mi sầu

Hay tà dương thu Mưa rơi mau?

Em ơi! Vệt nắng phù kiều uốn mình ô thước

Ta, suốt đời ngư phủ

Thả con thuyền trên mái tóc em buồn lênh đênh”

(“Đường vào tình sử”)

Hay,

 “Lời Thần Nữ mê điên ngoài cửa động

Đêm ảo kỳ bay lạc tiếng thiên nga

Ôi! Vũ trụ muôn đời thoi thóp sống

Ta gục quỳ bên những bản cầm ca”

(“Mê hồn ca”)

Và cũng như Lưu- Nguyễn, tiên cảnh không níu chân được Đinh Hùng. Với “lòng đã khác”, ông quyết định “bỏ thiên nhiên huyền bí” để trở về với chốn đô thị tục tĩu của loài người.  Nhưng rồi thứ ông nhận được cũng giống như Lưu – Nguyễn, một cảm giác lạc loài.

“Miệng quát hỏi: Có phải ngươi là bạn?

Ôi ngơ ngác một lũ người vong bản

Mất tinh thần từ những thuở xa xôi

Ta về đây là hết các ngươi rồi

Lạ tình cảm, lạ đời chung, cách sống”

(Bài ca man rợ)

Nhiều thập kỷ, người ta đã quên mất Đinh Hùng chỉ vì ông không được Hoài Thanh đưa vào “Thi nhân Việt Nam” – tuyển tập phê bình được coi như là “Phong Thần bảng” của Thơ Mới. Tài thơ của Đinh Hùng không thể phủ nhận dù có người thích, người không. Tên tuổi của ông dần dần đã hồi sinh khi những nhà thơ sau này như Du Tử Lê, Lê Đạt, Vy Thùy Linh… chịu sự ảnh hưởng của ông, nhưng ông vẫn chưa có vị trí xứng đáng trên thi đàn.

Bích Khê

Bích Khê (1916-1946) là một trong những nhà thơ tượng trưng điển hình của văn học Việt Nam. Ông làm rất nhiều thơ, thậm chí cả Thơ Đường, nhưng tác phẩm để đời thực sự của ông chính là thi tập “Tinh huyết”. Ông sang tác tác phẩm trong thời kỳ tuổi trẻ còn chan chứa tình yêu và dục vọng nhưng lại gặp phải căn bệnh quái ác nan y: bệnh di tinh. Ông sớm qua đời ở tuổi 30 nhưng những dòng “tinh huyết” ông để lại đã tạo ra một vệt đi dài dẫn dắt các thế hệ nhà thơ sau đến với chủ nghĩa tượng trưng, thậm chí là đi xa hơn: tới chỗ siêu thực.

“Hỡi lời ca man dại

Điệu nhạc thở hơi rừng

Đêm nay xuân đã lại

Thuần túy và tượng trưng”.

Theo lời kể của bà Lê Ngọc Sương, chị gái nhà thơ: “Thuở bé, Bích Khê còn có tính chơi hì hục khuân từng tảng đá ong vào sân, xếp lên xếp xuống cho thành nhà cửa, thành lâu đài. Đã có lúc tôi ngẫm nghĩ: cái anh chàng là lạ này có lẽ sẽ thành một kiến trúc sư? Và tôi không ngờ lâu đài chàng thường xếp lại là một tòa thơ”.

Bích Khê giúp ta xuất phát từ thế giới hiện thực để đi vào thế giới phi hiện thực, thế giới vô cùng. Đúng hơn, thơ là sự giăng mắc vô cùng đi về giữa hai thế giới. Cứ mỗi một biểu tượng phức hợp, Bích Khê lại tạo ra một khối không gian kì dị với tất cả đường nét, màu sắc, hình khối.

Sọ người là một biểu tượng quen thuộc, không chỉ mang tính physicals mà còn mang tính culture. Thời Phục Hưng do sự đăng quang cùa tinh thần khoa học, người ta hay dùng sọ người để trang trí thư phòng, tượng trưng cho trí tuệ. Trước cái sọ, Bích Khê không mô tả  mà khai thác phần rỗng không trong cái sọ, phần mà trước đấy là dạng sinh chất sống động của người cõi dương:

“Ôi khối mộng của hồn thơ chếnh choáng

Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương

Ôi bình vàng! Ôi chén ngọc đầy hương

Ôi hồ nguyệt dọng nhiều trăng lấp loáng”

Vẻ đẹp nữ giới trong thơ Bích Khê có sự sống mơn mở, sự căng tràn của nhựa sống giống trong tranh Chagall. Trong đó, ta có thể hình dung ra chân dung “ảo” của Bích Khê, ngay bên cạnh đo dưới lốt của một con nhân dương ngập tràn khao khát.

Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;

Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.

Ðêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.

Vài chút trăng say đọng ở làn môi.

Hai vú nàng ! hai vú nàng ! chao ôi !

Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng.

Đặc biệt, Bích Khê có những thử nghiệm trong âm nhạc thi từ rất đặc sắc. Các bài như “Tì bà”, “Hoàng hoa”, “Thi vị”, “Nhạc”… đều có những sang tạo đặc sắc về âm điệu. Đặc biệt là bài “Thì bà”, cả bài thơ được viết bằng thanh bằng và các phép gieo vần bất ngờ:

“Tôi qua tim nào vay du dương

Tôi mang lên lầu lên cung Thương

Tôi chưa bao giờ thôi yêu nàng

Tình tang tôi nghe như tình lang”

Bích Khê như một ngôi sao băng vụt bay ngang qua bầu trời văn học và để lại vương vãi trên thế gian này những mảnh tinh thể lung linh nhất. Trong số những “nhà giả kim” vĩ đại của thơ Tượng trưng Việt Nam, ông là người hiếm hoi có thể chạm được vào cõi “vô ngôn thông”. Và có lẽ bởi vậy, thơ ông cũng như con người ông đều hòa tan vào thế giới tượng trưng ấy, để mãi mãi về sau người ta còn thấy một chàng thi sĩ “ngồi thổi tiêu vàng giữa khói sương”

Thơ có tự mùa xuân đầu tiên của vũ trụ và con nười. Sau đó, mỗi bước đi con người lại bước xa rời cái bản chất cổ sơ và thuần túy ấy. Tượng trưng là một bước tiến trong khao khát trở về với nghệ thuật cội nguộn ấy của “lời ca man dại” và “điệu nhạc thở hơi rừng”, nơi vườn địa đàng vẫn còn nguyên thủy mùi hương thanh khí. Và chính vì vậy, cái chất thơ tượng trưng dễ khiến ta theo bước thi sĩ mà nhiễm phải linh khí rồi lạc lối tới vườn địa đàng.

N.C.
© 2011 Tạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚC số 47

TCPT47 – Những tư tưởng canh tân bị lãng quên
Download TCPT47 – Bản in (5.2MB)
Download TCPT47 – Bản thường (3.2MB)
Download TCPT47 – Bản mini (2.2MB)

Đọc thêm …

Advertisements