Quan hệ Việt-Mỹ: những cơ hội đầu tiên bị bỏ lỡ

Posted on Tháng Chín 9, 2011 bởi

1



Hữu Thành và Xuân Danh
(Theo TN – Trích từ Đông Tác)

2-9-1945, Hồ Chí Minh đã mở đầu bài diễn văn khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bằng một câu nổi tiếng: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng…”, trích bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, tác giả Thomas Jefferson (hình bên).

Thomas Jefferson đi tìm giống lúa xứ Đàng Trong

Trong cuốn US – Vietnam 1787-1941, tác giả Hopkins Miller viết rằng sau khi tuyên bố độc lập (1776), Chính phủ Hoa Kỳ lần đầu tiên đã biết đến xứ “Cochinchina” tức là “Đàng Trong”. Tháng 7-1787, Công sứ Hoa Kỳ tại Pháp lúc bấy giờ là Thomas Jefferson đang ở Paris tham gia các cuộc đàm phán thương mại đã ngỏ ý muốn mua giống gạo của xứ Đàng Trong. Ông đã viết một lá thư cho bạn ở Mỹ: “Ông Poivre người thầu thuế vùng Ile-de-France, đang đi thăm nhiều nước châu Á, Ông cho biết là ở Đàng Trong trồng nhiều giống lúa, có ba giống cần nước, có ba giống mọc ở vùng cao”. Ý định của Jefferson lúc đó rất rõ ràng: “Lúa cạn Đàng Trong nổi tiếng là trắng thơm và phát triển tốt, tôi sẽ cố cho đem về ít lúa Đàng Trong”. Và vị tổng thống tương lai của Hoa Kỳ lúc đó đã liên hệ với con trai của Nguyễn Ánh là Hoàng tử Cảnh để tìm giống lúa. Do không đi tới kết quả nên 4 tháng trước khi cách mạng Pháp bùng nổ (1789) Jefferson tiếp tục viết thư cho Malesherbes – chính khách Pháp và cũng là nhà nghiên cứu thực vật học – với nội dung: “Nếu ngài có thể bận tâm kiếm cho tôi ít giống lúa Đàng Trong thì thật quả là ông có công lớn đối với đồng hương của tôi”. Nhưng cuối cùng Malesherbes đã không giúp được Jefferson.

Bản hiệp định thương mại bất thành

Lần giở những trang sử cũ, người ta thấy khoảng một thế kỷ rưỡi sau khi Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ ra đời (4-7-1776), năm 1819 (cuối đời Gia Long), hai thương thuyền Hoa Kì cập bến cảng Sài Gòn để mua đường. Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt đã tiếp đãi tử tế thuyền trưởng John White và dành mọi sự dễ dãi trong việc mua bán.

Năm 1829, khi Tổng thống Andrew Jackson lên nhậm chức, một phái bộ do Edmund Roberts được đích thân tổng thống cử sang đem theo dự thảo hiệp định thương mại để có thể thay mặt Chính phủ Mỹ ký với triều đình nhà Nguyễn. A.Andrew Jackson dự định đặt đại diện ngoại giao tại vương quốc Đại Nam và cử ông Shilluber làm lãnh sự, nhưng vua Minh Mạng đã từ chối.

JPEG - 11.4 kb

Đầu tháng 1.1832 chiến hạm Peacock chở phái bộ đến Vũng Lấm (nay thuộc Khánh Hòa). Nhưng sau nhiều ngày thảo luận hiệp định thương mại vẫn không được ký kết. Theo lời của Edmund Roberts thì trách nhiệm hoàn toàn thuộc về triều Nguyễn, với các thủ tục ngoại giao quá rườm rà, các quan chức được ủy quyền thương thuyết không có ý kiến rõ ràng, và hay lảng tránh các câu hỏi trực diện do Mỹ nêu ra. Phía Việt Nam tỏ ra quá dè dặt, thận trọng và có thái độ nghi kị. Lý do quan trọng nhất khiến các phái viên của triều Nguyễn không đồng ý ký rốt cuộc lại là những vấn đề thuộc hình thức văn bản. Họ cho rằng những lời lẽ viết trong dự thảo hiệp định không tuân thủ những công thức tôn kính cần phải có đối với Hoàng đế Việt Nam. Thậm chí còn căn vặn phía Mỹ, sau khi được giải thích rằng Tổng thống Hoa Kỳ là do bầu ra nên có nhiệm kỳ (thời hạn), rằng như vậy Tổng thống Mỹ không tương xứng với Hoàng đế Việt Nam.

Sử liệu Việt Nam thì nói rằng hai viên quan được triều đình giao cho việc đàm phán với Edmund Roberts là Ngoại lang Nguyễn Tri Phương và Tư vụ Lý Văn Phức. Sau khi nghe dịch nội dung quốc thư của Tổng thống Mỹ và dự thảo của hiệp định thương mại, thấy không hợp với cách thức đã không trình lên vua rồi viết thư trả lời rằng Vua Việt Nam không ngăn cản buôn bán, nhưng phải tuân theo pháp luật đã định. Tàu Mỹ đến phải đậu ở Đà Nẵng, không được phép lên bờ. Nhận được thư này, phái đoàn của Edmund Roberts đã rời Việt Nam đi Xiêm La.

Năm 1836, tàu Peacock cũng với đặc sứ E. Robert trở lại Đà Nẵng với hi vọng ký một hiệp ước thương mãi, nhưng ông E. Robert bị bệnh, tàu Peacock phải rời Đà Nẵng đi Macao đề cấp cứu; tàu cập bến Ma Cap thì ông E. Robert đã chết. Sau lần gặp gỡ bất thành này, quan hệ giữa Hoa Kì và Đại Nam bị gián đoạn trong gần bốn thập niên (1836-1873).

Bùi Viện, nhà ngoại giao với sự nghiệp dở dang

Khâm sai đại thần Bùi Viện – Tổng thốn Ulysses Grant

Từ giữa thế kỷ 19 đất nước ta lâm vào một tình thế nghiêm trọng: năm 1858 liên quân Pháp-Tây Ban Nha đánh chiếm bán đảo Sơn Trà ở Đà Nẵng; 1859 thành Gia Định bị chiếm, 1861 lần lượt mất Định Tường, Côn Lôn, Biên Hòa. Với Hòa ước 1862, triều đình Huế phải nhượng đứt cho Pháp ba tỉnh miền Đông. Đến tháng 6-1867 chúng ta mất toàn bộ sáu tỉnh Nam Kì.

Trước tình hình đen tối ấy, nhiều danh sĩ cấp tiến, giàu lòng yêu nước, có óc thực tế, muốn sử dụng tri thức của mình vào công cuộc cách tân để cứu đất nước ra khỏi nguy cơ bị xâm lược. Đó là những Hoàng Phan Thái, Nguyễn Tư Giản, Đặng Đức Thuận, Đinh Văn Điền, Nguyễn Lộ Trạch và xuất sắc nhất là Nguyễn Trường Tộ (1828-1871)Bùi Viện (1839-1878). Bùi Viện đáng được xem là một nhà kinh bang tế thế: có công lớn trong việc xây dựng cảng Hải Phòng, lập ra “Tuần dương quân” (lực lượng hải quân thường trực) gồm 200 chiến thuyền và 2.000 quân thủy thiện chiến và lập ra hệ thống thương điếm ở khắp các tỉnh ven biển Đại Nam. Là nhà ngoại giao năng nổ, Bùi Viện được vua Tự Đức cử sang Hoa Kì đề nghị đặt quan hệ chính thức và được viện trợ chống thực dân Pháp. Rời Đại Nam tháng 7-1873, Bùi Viện đến Hồng Kông rồi Hoành Tân (Nhật Bản), vượt trùng dương đến New York rồi Washington (1874).

JPEG - 11.8 kb

Sau gần một năm kiên nhẫn vận động, ông được tổng thống Ulysse Grant tiếp kiến và đã thuyết phục tổng thống chấp thuận lời yêu cầu đặt quan hệ ngoại giao và giúp đỡ Đại Nam chống Pháp, nhưng vì không có quốc thư đem theo nên chưa thể bàn cụ thể hơn. Năm sau (1875), Tự Đức ban cho Bùi Viện chức khâm sai đại thần, cầm đầu đoàn sứ giả mang quốc thư trở lại Hoa Kì. Nhưng thật không may, tình hình thế giới đã biến chuyển bất lợi cho Đại Nam, Hoa Kì đã thay đổi chính sách nên tuy tổng thống Grant vẫn niềm nở tiếp sứ bộ của ta, nhưng nêu đủ lí do để từ chối viện trợ cho Đại Nam chống Pháp. Buồn rượi, Bùi Viện tay không trở về tổ quốc. Đến Đà Nẵng mới hay tin mẹ mất, Bùi Viện ra Huế tâu vua về chuyến công du bất thành và xin về thọ tang mẹ. Tự Đức đã có lời phê đầy cảm khái: “Trẫm đối với ngươi chưa có ân nghĩa gì, mà ngươi đã coi việc nước như việc nhà, không quản xa xôi lo lắng, quỉ thần ắt cũng chứng cho”. Ba tháng sau Bùi Viện lại được triệu về kinh đô giữ chức thương chánh tham biện rồi chuyển sang chức chánh quản dốc nha Tuần hải. Việc bang giao giữa Đại Nam và Hoa Kì một lần nữa lại tạm gián đoạn. Chẳng bao lâu Bùi Viện mất đột ngột ở tuổi chưa đầy 40, để lại một sự nghiệp bộn bề mà dang dở, ghi dấu một cột mốc trong lịch sử bang giao Việt-Mỹ thời cận đại.

Posted in: Lịch sử