“Bình ổn giá”- miếng pho-mát của một số doanh nghiệp Nhà nước

Posted on Tháng Chín 16, 2011 bởi

3



Nhất Nam, TCPT số 49

Thời buổi nền kinh tế trong tình trạng lạm phát “phi mã”, ở tầm vĩ mô, Nhà nước đã có nhiều chính sách can thiệp vào thị trường, nhằm chia sẻ khó khăn với người dân, doanh nghiệp…, và đảm bảo an sinh xã hội. Chương trình bình ổn giá được áp dụng cho nhóm mặt hàng thiết yếu, được đánh giá như một điểm mới, ở góc độ nào đó, chương trình hàng bình ổn đã tác động tích cực đến đời sống người dân, tuy nhiên quá trình thực hiện còn nhiều bất ổn.

Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai  địa phương thực hiện chương trình này. Thông qua các doanh nghiệp đầu mối, Ủy ban Nhân dân thành phố cung cấp các “gói” hỗ trợ, cho vay khoản tiền lớn lãi suất 0%, ngược lại doanh nghiệp cam kết bán nhóm hàng được bình ổn thấp hơn giá thị trường 10%. Thời gian đầu chương trình bình ổn phát huy tác dụng tích cực, là nơi Nhà nước thể hiện vai trò quản lý, chi phối, điều tiết giá cả.

Tuy nhiên, thời gian gần đây, theo khảo sát trên thị trường, một số nhóm mặt hàng trong chương trình bình ổn của các doanh nghiệp tham gia chương trình bình ổn, có giá cao hơn giá hàng hóa ở các doanh nghiệp không tham gia chương trình bình ổn. Chẳng hạn, ở hệ thống siêu thị Co.opMart, một số mặt hàng như đường, trứng gia cầm, dầu ăn… có giá bán cao hơn giá các sản phẩm cùng loại tại các siêu thị Bic C, LotteMart, trong khi doanh nghiệp Sài Gòn Co.op được hưởng rất nhiều ưu đãi từ việc tham gia chương trình bình ổn giá hàng hóa.

Tiền vào túi ai? Lợi ích có đến được với người dân? Bất ổn ở đâu?

Thứ nhất, điểm mấu chốt, bất hợp lý xuất hiện ngay từ khâu phân phối tiền. Trong khi các doanh nghiệp sản xuất, người nông dân cần vốn để đầu tư cho sản xuất phải vay từ các ngân hàng thương mại với lãi suất hơn 20%, tiền của chương trình bình ổn giá hàng hóa lại hỗ trợ vào các doanh nghiệp phân phối, phần lớn là các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp Nhà nước. Điều này, thể hiện cơ chế “xin-cho,” các doanh nghiệp buộc phải “đi đêm” để được tham gia chương trình hàng bình ổn giá.

Thứ  hai, các doanh nghiệp tham gia chương trình hàng bình ổn giá được vay tiền với mức lãi suất 0%, do đó chi phí sản xuất thấp, bán giá thấp hơn thị trường 10%. Trong khi đó, các doanh nghiệp không được hưởng các ưu đãi trên, muốn bán được hàng phải bán không cao hơn các doanh nghiệp tham gia bình ổn, trong khi họ phải vay vốn từ ngân hàng với lãi suất hơn 20%. Như vậy, xuất hiện tình trạng cạnh tranh không công bằng giữa các doanh nghiệp, tình trạng hai giá trong cùng một nhóm mặt hàng trên thị trường.

Những bất ổn trên cho thấy các doanh nghiệp lớn vẫn đang sống nhờ “hũ gạo” của Nhà nước, mang nặng cơ chế xin cho, mất khả năng đề kháng trước “bão tố” của nền kinh tế. Khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, các tập đoàn bán lẻ, quỹ đầu tư nước ngoài… theo lộ trình hội nhập đã đặt chân vào thị trường Việt Nam. Trong khi đó, các doanh nghiệp trong nước, kể cả doanh nghiệp lớn đã bộc lộ những điểm yếu cố hữu và lép vế trong cuộc cạnh tranh. Báo chí trong nước vẫn hô hào “Việt Nam đã ra biển lớn, đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới”… Đó chỉ là những mỹ từ. Trên thực tế một số tổng công ty, công ty lớn ở Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng, chưa tạo được thế và lực, chưa có thương hiệu ở tầm khu vực. Công bằng mà nói, doanh nghiệp trong nước chưa đủ sức đương đầu với các tập đoàn nước ngoài tới Việt Nam theo lộ trình gia nhập tổ chức WTO.

N.N.
Sài Gòn, tháng 8/2011

TCPT49 – Thương hiệu Việt Nam
Download TCPT49 – Bản HD
Download TCPT49 – Bản Standard
Download TCPT49 – Bản Mini

Advertisements
Posted in: Kinh tế