Nhà văn trẻ đang ở đâu, sẽ đi về đâu?

Posted on Tháng Chín 22, 2011 bởi

0



Inrasara
Nguồn: Tia Sáng

Từ cuối khoảng thập niên 90 của thế kỉ XX, hạn từ nhà văn trẻ, văn trẻ hay thơ trẻ được sử dụng với tần số cao. Cao, ngày càng đậm đặc, trên các phương tiện thông tin đại chúng và cả trong giới khoa bảng. Đậm đặc và lạ. Lạ ở người dùng nó hay lẫn lộn về thời điểm xuất hiện, hệ mĩ học sáng tác cho đến độ tuổi của nhà văn. Nên đã từng xảy ra hiện tượng không ít nhà văn trẻ trẻ từ đầu thập niên 90 của thế kỉ trước đến cuối thập niên thứ nhất của thế kỉ sau mà vẫn còn… trẻ!

Văn thơ trẻ, một hạn từ đầy nhập nhằng là vậy(1).

Ở đây, tạm lấy chuẩn Hội Nhà văn Việt Nam – các cây bút dưới 35 tuổi – để định danh nhà văn trẻ. Giữa mươi nhà văn đã được biết đến, thêm bao nhiêu khuôn mặt khác, xác định được ai để lại dấu ấn, và những tác giả nào đáng đọc, là điều khó khăn. Càng khó hơn khi phong trào sáng tác mạng phát triển, các người viết trẻ không còn thiết tha với việc in giấy tác phẩm của mình. Rồi bao nhiêu cây bút đang cư trú vùng sâu vùng xa không điều kiện có mặt trên các phương tiện thông tin đại chúng hay trên diễn đàn tại các trung tâm văn hóa lớn,…

Khó, nhưng không phải không thể điểm danh, nếu ta đặt các tác giả ấy trong tiến trình phát triển văn học, với những đóng góp khác lạ, độc đáo qua cách nhìn giải trung tâm. Nghĩa là khi ta chỉ nhấn vào chất lượng tác phẩm, mà không quan tâm phạm trù trung tâm – ngoại vi, không phân biệt văn chương giấy hay văn chương mạng, văn bản in ngoài lề hay chính thống, của người dân tộc thiểu số hay đa số, nhà văn sống ở địa phương hay tại trung tâm kinh tế văn hóa lớn, đã hay chưa là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam,… Qua đó, ta sẽ có được cái nhìn toàn cảnh, vô phân biệt.

Trước đó không xa, các tác giả thuộc thế hệ 7X – tuổi trên dưới 35 – xuất hiện ở nhiều thời điểm khác nhau, đã định hình phong cách. Về thơ có: Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phan Huyền Thư (sinh năm 1972), Ly Hoàng Ly (1975), Trần Lê Sơn Ý (1977),  Lý Đợi (1978)…; văn xuôi có: Trần Nhã Thụy, Phan Hồn Nhiên (1973), Nguyễn Đình Tú, Đặng Thiều Quang (1974), Khánh Phương (1975), Nguyễn Ngọc Tư, Vũ Đình Giang (1976), … Hầu hết họ vẫn sáng tạo, và sáng tạo mạnh.

Xuất hiện đồng thời hay muộn hơn, là những khuôn mặt trẻ.

Nhà văn Di Li (1978) viết truyện kinh dị là sự lạ. Lạ, bởi ít ai dũng cảm dấn vào lãnh địa này, ở đó sự non tay sẽ bị nhận ra tức thì. Tiểu thuyết Trại hoa đỏ (2009) và tập truyện Chiếc gương đồng (2010) lôi cuốn được độc giả, là thành công đáng ghi nhận.

Nguyễn Vĩnh Nguyên (1979), bốn năm sau tập truyện ngắn Khu vườn lưu lạc (2007) là tập truyện ngắn khác: Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông (2011). Nếu ở tập trước, tác giả thử nhìn sự vật ở bề trái, vùng tối, chiều khác trong tầng bậc chưa được khai phá của tâm hồn và cuộc sống con người hiện đại, thì ở tác phẩm sau, anh chọn góc nhìn khác: ở lưng chừng. Chính từ góc nhìn lưng chừng, anh thấy cuộc đời “khác”, từ đó quan niệm và cách viết truyện ngắn cũng khác đi.

Truyện ngắn “Hậu sản” của Lynh Bacardi (1981) có nhiều khám phá về sinh phận bị đày ải, quái dị, hơn cả kiếp người dưới đáy xã hội. Truyện đựng chứa nhiều ẩn dụ, được viết như trong cơn mê sảng dài. “Hậu sản” phi tâm hóa thể loại thơ với truyện, dù khó đọc nhưng vẫn có sức hấp dẫn riêng. Tiếc rằng, năm năm sau tác giả này không có tác phẩm nào khác vượt qua nó.

Như Nguyễn Thị Thúy Quỳnh (1979) với 21 khúc biến tấu (2004) hay Nguyễn Thế Hoàng Linh (1982) với Truyện của thiên tài (2005),… và nhiều tác giả văn xuôi khác đã chung số phận. Sự trường sức của cây bút mà tài năng lộ ở giai đoạn khởi động, đang là một vấn đề lớn. Cả Nguyễn Thị Thúy Quỳnh lẫn Nguyễn Thế Hoàng Linh đã chuyển sang làm thơ sau đó. Dù ở thể loại này, họ vẫn thể hiện được cá tính sáng tạo được nuôi dưỡng từ thuở văn xuôi.

Hai năm qua, Vũ Lập Nhật (1990) xuất hiện, như là một hứa hẹn. Tiểu thuyết 9COMPUTER với hàng loạt truyện ngắn trên mạng của Vũ nhiều tưởng tượng và liên tưởng độc đáo, lối viết đa tuyến với những chuyển biến bất ngờ, lôi cuốn.

Còn ai nữa? Hầu như không. Văn xuôi Việt Nam vẫn còn bám “hiện thực”, một hiện thực chưa thoát ra khỏi lối viết cổ điển. Sự thiếu truyền thống [văn xuôi] của Việt Nam là một trong những nguyên do dẫn đến tình trạng này.

Thơ đã  khác hẳn. Việt Nam có cả ngàn năm truyền thống thơ để người làm thơ có thể tiếp nhận, hủy hay giải truyền thống.

Vi Thùy Linh (1980), từ thế hệ trẻ “trước” sang thế hệ trẻ “sau” vẫn còn giữ nguyên phong độ. Tập này tiếp tập khác, Vi Thùy Linh vẫn là bộ mặt rình rang, “nổi trội”. Điều đáng nói là Linh quá chú tâm về bề mặt báo chí mà quên đi mình từng là nhà thơ tài năng. Trong khi thơ đã tự lặp lại lúc nào không biết. Cùng thời điểm đó, ở Sài Gòn, Bùi Chát (1979) rất khác. Mỗi tập thơ là một ý niệm mới, và anh triển khai tối đa ý niệm này. Hơn nữa, các ý niệm xuất phát từ cảm thức hậu hiện đại, nên hiện thực trong thơ Bùi Chát là thứ “hiện thực thậm phồn” của xã hội Việt Nam hiện tại được phơi bày lồ lộ qua một lối thơ giễu nhại – độc đáo, sâu cay và… vui vẻ.

Sau đó không lâu, Khoa Viết văn thuộc Đại học Văn hóa Hà Nội giới thiệu đến công chúng vài khuôn mặt thơ mới: Đoàn Văn Mật (1980) và Lữ Thị Mai (1988) nằm trong số đó. Có thể kể thêm Nguyễn Quang Hưng (1980), Điệp Giang (1981),… nhưng tất cả vẫn nằm trong truyền thống dòng thơ “tiếp hiện”(2). Ngoài Du Nguyên (1988) với tập thơ đầu tay Mục: xó xỉnh, cười (2011) đã khởi đầu chuyển hướng, những người làm thơ ở các tỉnh phía Bắc vẫn ở lại “tiếp hiện” – từ lối làm thơ, quan niệm về thơ và cả cách trình làng tác phẩm.

Các cây bút thơ trẻ Sài Gòn quyết liệt hơn, cực đoan hơn trong sống và viết. Họ có thể in photocopy hay chỉ chọn có mặt trên mạng, có thể in chính thống hay chấp nhận tác phẩm sống lưỡng cư – không vấn đề gì cả.

Từ Nguyệt Phạm (1982) đến Đỗ Trí Vương (1990), từ Tuệ Nguyên (1982), Tú Trinh (1983), Khương Hà (1985) tới Bỉm (1987), họ thử đủ phong cách, thể nghiệm đủ thủ pháp; từ truyền thống, hậu lãng mạn, hiện đại, tân hình thức cho đến hậu hiện đại.

Trong số này, Tiểu Anh (1984) và Đoàn Minh Châu (1984) định hình phong cách ngay khi vừa xuất hiện. Kiệm lời và tuần tự nhi tiến, Đoàn Minh Châu với thi phẩm đầu tay (m-n & z, Minh Châu xuất bản năm 2008) và Tiểu Anh qua vài mươi bài đăng trên Vanchuongviet đã chín đầy. Ở một chân trời khác, Lưu Mêlan (1989) qua hàng trăm bài thơ đăng cấp tập hai năm liên tục trên các trang mạng văn chương toàn cầu đã tạo nên một giọng lạ biệt.

Điểm danh sơ bộ vài tên tuổi văn chương trẻ, không lạ khi nữ giới chiếm đa số. Là điều đáng suy nghĩ. Tương lai thế nào chưa biết, chứ hôm qua – theo quan sát cá nhân tôi – các tài năng văn chương Việt Nam thường chết yểu, ở đó nữ dễ yểu hơn và yểu nhiều hơn nam. Còn nếu có thọ, đa số chỉ như một cách kéo dài hơi thở thoi thóp từ thuở ban đầu.

Tại sao? Vì nhiều nguyên do khác nhau, trong đó nguyên do của mọi nguyên do chính là Việt Nam thiếu nền tảng triết học. Triết học đang được dạy trong các trường Đại học là triết học dạy nghĩ theo chứ không phải nghĩ khác, hay suy tư độc lập. Ở đó, ý hướng tính của nó là khuyến khích sự tiếp thu [và sáng tạo trên nền tảng] cái cũ, chứ không là tạo cảm hứng cho khám phá cái mới, thám hiểm vào vùng xa lạ.

Sự thể biểu hiện rõ nhất trong thể loại văn học cuối cùng: lí luận – phê bình.

Qua môi trường văn học ấy, đòi hỏi có ngay nhà lí luận – phê bình trẻ sáng giá không khác nào chuyện hái sao trên trời. Người trẻ viết phê bình, có thể điểm danh: Trần Thiện Khanh (1980), Đoàn Minh Tâm (1982), Đoàn Ánh Dương (1984), Nhã Thuyên (1986),… Họ sẽ đi đến những đâu?

Các nhà văn trẻ Việt Nam rồi sẽ đi về đâu?

Sài Gòn, 7-9-2011

______

(1) Inrasara, “Đặt nền tảng cho phê bình thơ Việt đương đại”, tạp chí Hợp Lưu, số 110, 6&&-2010.

(2) Về hạn từ “dòng thơ tiếp hiện”, xin xem: Inrasara, “Hòa giải và hóa giải ba loại nhà thơ hôm nay”, tạp chí Sông Hương, số 6, 6-2010.