Nói về cái đuôi của sự độc tài độc đoán xã hội

Posted on Tháng Chín 25, 2011 bởi

0



Võ Hưng Thanh
Theo Vietnewart

Sự độc tài độc đoán hay sự chuyên quyền trong xã hội con người vốn có từ thời đại quân chủ. Trong thời đại này, người ta luôn quan niệm một nước không thể có hai vua, nên ý nghĩa thiết yếu luôn cần phải có duy nhất một người chủ tể, đứng đầu, có toàn quyền trong quốc gia, và đó chính là cơ sở, hay nền tảng duy nhất của sự độc tài. Tính cách độc tài này, như vậy không khác gì hơn là tính chất của sự ổn định, hay yêu cầu cần thống nhất mọi quyền lực trong xã hội. Tất nhiên, khi một vị hoàng đế nào đó quá bạo chúa, phải bị dân chúng nổi lên để lật đổ, đó cũng chỉ là yêu cầu tự nhiên, cần thiết, và khách quan. Chình vì thế, cách đây nhiều ngàn năm, một nhà tư tưởng dân chủ nổi tiếng nhất và đầu tiên ở phương Đông, trong thời kỳ quân chủ này, là Mạnh tử của Trung quốc, từng nói rõ bạo chúa hôn quân không phải là vua, mà là giặc, nên giết tên hôn quân không phải giết vua, mà chỉ là giết một tên giặc, và chính đó cũng là nguyên lý của việc nước chỡ thuyền, mà nước cũng làm lật thuyền được, như ông đã từng nói mà hầu như phần lớn mọi người ai cũng biết.

Song chỉ đến thời kỳ cận đại trong xã hội dân chủ của nhân loại, thì Các Mác (1818-1883) là một nhà tư tưởng nổi bật lên, vì đã chủ trương lý thuyết chuyên chính. Đó là lý thuyết chuyên chính vô sản (die Diktatur des Proletariats) mà ai cũng từng biết. Tuy nhiên, trước kia cũng có một thời gian dài có nhiều người nghi hoặc, không biết có phải chính bản thân Mác đã chủ trương thật về điều này hay không, hoặc chỉ do những người của đời sau phiên vào. Sự thật, tiếng Đức như trên đã thấy, đúng là từ nguyên gốc, trong chính tác phẩm vốn do chính tay Mác viết ra. Sở dĩ Mác chủ trương chuyên chính, hay độc tài vô sản, mà ngày nay người ta còn hiểu đó là chủ nghĩa toàn trị (totalitarianism), chỉ do ông ta đã tin chắc chắn rằng học thuyết của ông ta mới duy nhất đúng, mới là khoa học tuyệt đối, mới là con đường tất yếu của lịch sử nhân loại phải đi tới. Chính sự chủ quan và ý nghĩa chỉ tự phong đó, khiến nó trở thành chính là nền tảng, là gốc gác, của việc dẫn tới quan điểm về độc tài vô sản của Mác. Cũng vậy, sự toàn trị hiểu theo ngữ nghĩa của ngày nay, vẫn chỉ là một sự cai trị, quản lý xã hội bởi người cầm quyền chính một cách toàn diện, kể cả trong mọi khía cạnh đời sống của người dân, tức từ A đến Z, luôn được thống nhất chung, dưới một quyền lực tập trung duy nhất và toàn diện.

Sở dĩ có quan niệm kỳ lạ và ngược đời như trên, chỉ vì Các Mác quá tin tưởng tuyệt đối vào quan niệm lý thuyết biện chứng (die Dialektik) của nhà triết học Hegel (1770-1831). Có nghĩa, Hegel chỉ là một người đi trước Mác có vài thế hệ. Hay nếu không có lý thuyết biện chứng của Hegel, cũng không chắc có được học thuyết chính trị xã hội chung kiểu của Mác. Đó là điều mà chính Mác đã từng công khai thừa nhận, ngay trong Lời tựa do ông viết cho tác phẩm kinh tế chính trị quan trọng nhất của mình, là bộ Tư bản luận (das Kapital). Tuy nhiên, chỉ có điều là nhà triết học Hegel hoàn toàn duy tâm, hay quan điểm biện chứng của Hegel cũng chỉ quan điểm hoàn toàn duy tâm, trong khi ấy, Mác lại hoàn toàn duy vật, và quan điểm biện chứng của Mác cũng là quan điểm biện chứng hoàn toàn duy vật. Cái duy tâm đã biến thành cái duy vật, đó chính là một điều trớ trêu hay vô lý nhất. Bởi vì ý nghĩa của quy luật hay nguyên lý về biện chứng chỉ có thể hữu lý được trong quan điểm duy tâm, cho dầu phần nào nó cũng chỉ mang tính cách tư biện là chính, thì cũng còn có thể có lý. Đằng này, duy vật, hay vật chất thuần túy mà lại biện chứng, thì quả thật sự hết sức vô lý, áp đặt, cường điệu, phi lô-gích, ngược ngạo, tức hoàn toàn giả tạo hay nghịch lý. Đó là điều, mà quả chính Mác đã lờ đi, hay không tự biết, và rồi đến Lênin, cũng chỉ có cùng một cái nhìn thiển cận hay ý thức khiên cưỡng như vậy. Chuyện đem râu ông nọ cắm cằm bà kia đúng quả đúng là như vậy. Hay nói khác đi, đây chính là chỗ nghịch lý nghiêm trọng nhất, khiến nó phá bỏ hết mọi cơ sở khách quan hay chính xác của lý thuyết Lênin và của Mác.

Mác viết “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa có thời kỳ chuyển biến cách mạng để đi từ xã hội này sang xã hội kia. Điều đó cũng phù hợp với một thời kỳ quá độ về chính trị, mà nhà nước của nó thì không thể nào khác hơn là sự chuyên chính cách mạng của những người vô sản” (Zwischen der kapitalistischen und der kommunistischen Gesellschaft liegt die Periode der revolutionären Umwandlung der einen in die andere. Der entspricht auch eine politische Übergangsperiode, deren Staat nichts anderes sein kann als die revolutionäre Diktatur des Proletariats) [MEW 19, 28, Mác / Ăng-ghen Toàn tập, tiếng Đức].

Có nghĩa, học thuyết đấu tranh giai cấp, và học thuyết vô sản, cũng như chuyên chính vô sản của Mác, đều đặt cơ sở và nền tảng như trên, trên quan điểm biện chứng về lịch sử của ông ta, và chính nó cũng chỉ được rút ra bởi từ nguồn gốc nguyên thủy của nó từ trong học thuyết biện chứng của Hegel, là điều đáng nói nhất. Hay nếu thế, lại có thể nói học thuyết của Mác cũng chỉ là một hình thức phản đề của học thuyết Hegel, và nếu vậy, nó cũng không thể là một kết quả sau cùng, và cũng không thể chỉ tự dừng lại ở bản thân nó được. Cho nên, sự tự tin tuyệt đối của Mác, cũng thiết yếu là điều tự mâu thuẫn, hay tự nghịch lý lại với chính bản thân học thuyết của ông ta. Đây là điều mà phần lớn từ trước đến nay rất nhiều nhà nghiên cứu, lý luận đều không nhìn thấy hết. Những người ủng hộ, hay đi theo học thuyết Mác từ trước đến nay, hầu như chỉ hướng theo cảm tính, chỉ lấy ý nghĩa của giai cấp bình thường, của sự bất công xã hội theo kiểu bình thường, mà không hề nghĩ gì sâu xa về mặt khoa học hay triết học mà Mác quan niệm, như trên đã nói.

Bởi thế, những người từ trước tới nay hướng theo học thuyết của Mác, thực chất hầu như chỉ có hướng theo cảm tính, chỉ dựa trên nền tảng từ niềm tin của Mác, mà dường như không nghĩ gì khác. Đó cũng là ý nghĩa tại sao mọi người trí thức được đào tạo theo hướng XHCN, lại vẫn cho hay cứ nghĩ chế độ toàn trị vốn là chế độ tự do gấp cả triệu lần, là lương tâm của thời đại, là đỉnh cao của trí tuệ loài người chẳng hạn. Họ nhất loạt chỉ biết nói theo sự tuyền truyền, hoặc theo sách vở kiểu giáo điều một chiều, độc đoán trong lý luận, mà thiếu hẵn mọi sự suy nghĩa, tư duy có tính chất tự chủ, tự do và độc lập, là như thế. Ngay cả như Lênin cũng vậy, ông ta nghĩ rằng quy luật biện chứng duy vật là điều vốn tất yếu, nó cũng là cơ sở cho chính biện chứng lịch sử như trên đã nói. Nhưng tất cả mọi điều đó, thật sự đều chỉ được phiên dịch một cách sai trái, ngược ngạo, từ học thuyết biện chứng của Hegel như đã nói trên, mà rất nhiều người đều không thấy. Cũng trên cơ sở đó, mà Lênin còn nghĩ đơn giản, là điều kiện để thực hiện chủ nghĩa xã hội mác xít, hay chủ nghĩa cộng sản mác xít, là sự chuyên chính vô sản, cộng với việc điện khí hóa, hay nói khác, chủ nghĩa kinh tế tập thể, cộng với sự điện khí hóa. Tức là, nếu không có kinh tế tập thể, hoặc không có điện khí hóa, thì cũng không thể có được chủ nghĩa xã hội mác xít, hay chủ nghĩa cộng sản mác xít. Bởi vì đến thời của Lênin, loài người cũng chỉ mới có nguồn năng lượng điện, là hiện đại nhất, và để chống lại thực trạng của giai đoạn kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa còn sơ khai, ông ta cũng chỉ mới có được khái niệm kinh tế kiểu tập thể, tức là kiểu hợp tác xã thô sơ, cộng với năng lượng điện, mà không có gì khác nữa. Ngày nay xã hội công nghệ phát triển, với công nghệ thông tin, với những nguồn năng lượng mới khác, nhiều tri thức khoa học mọi loại mới khác, kể cả với những đe dọa về môi trường, khiến các quan niệm của Lênin thật sự lỗi thời và lạc hậu.

Vậy nên, ý nghĩa của chuyên chính vô sản trước đây, thật sự chỉ có cơ sở là niềm tin vào lý thuyết biện chứng về lịch sử của Mác. Những bài viết về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, ý nghĩa khách quan của biện chứng luận, kinh tế tập thể nói chung, kể từ lâu nay mà tác giả bài này vẫn thỉnh thoảng có viết, do hoàn cảnh khách quan của xã hội nhất định, đều chưa mang đủ tính chất hệ thống, và chưa đúc kết hết. Có lẽ sắp tới, cần phải có những bài viết tương đối đầy đủ, sâu xa, hay chính xác hơn, kể cả phải toàn diện hơn về cả mặt khoa học và triết học, tức về mặt lý tính, để nhằm đối kháng lại với mọi quan điểm mang chất cảm tính, thô sơ về học thuyết Mác, mà từ trước đến nay nhiều người vẫn hiểu. Chẳng hạn, nếu trường hợp của các ông Trần Văn Giàu hay Trương Tửu, thì không có gì đáng nói, vì đều là những người chỉ được huấn luyện ngắn ngày về chủ nghĩa Mác ở Liên xô, hay tự tìm hiểu lấy như các thế hệ tiên phong của thời kỳ ông Nguyễn Bách Khoa. Nhưng cho đến cả ông Trần Đức Thảo, người được đào tạo bài bản về triết học tại Pháp, có bằng cấp thạc sĩ triết học khi đó tại Pháp, thì ông ta vẫn chỉ đã nhìn học thuyết Mác ở khía cạnh niềm tin, thị hiếu, hay kể cả sự hời hợt.

Bởi vì, nếu chủ yếu Mác là người có quan điểm cộng sản, nên ông ta chỉ dùng biện chứng luận của Hegel, đúng như kiểu một công cụ thích ứng, nhằm phục vụ cho mục tiêu của mình là chính, tuy rằng chỉ một cách giả tạo, thì cả ông Trần Đức Thảo, cũng là người tuy có tinh thần, ý thức yêu nước, nhưng lại là người có tư tưởng cộng sản, nên ông ta cũng chỉ vận dụng học thuyết Mác giống như một lợi khí, một công cụ cho quan điểm cảm tính và thị hiếu xã hội của mình, mà không chịu khó nhìn sâu hơn, xác đáng hơn về nó, để nhằm phê phán học thuyết đó trên cơ sở hay ý nghĩa cốt lõi của nó, là ý nghĩa khoa học và triết học đúng cách, mà trên đây chúng ta đã nhận định.

Bởi vậy, ý nghĩa đấu tranh hiện tại của những nhà dân chủ, dân quyền ngày nay, theo tôi, không thể cũng chỉ dừng lại ở chỗ cảm tính, hay thô sơ về những khía cạnh của xã hội thực tế, mà cũng phải nhất thiết nâng cao hơn trong cái nhìn đối với chủ thuyết Mác, từ đó cũng nâng cao lên thêm nữa tầm mức hiện đại của lý thuyết dân chủ, nhất là góp phần phê phán thiết yếu và nhận thức ra được sâu sắc cái cốt lõi, cái hệ lụy, hay cái đuôi của chủ nghĩa toàn trị, thì nhờ đó mới có cơ sở khoa học và thực tiển vững chắc, nhằm xiển dương đúng mức cho ý nghĩa và mục đích tốt đẹp của một xã hội dân chủ, tự do, chính đáng và đích thực của thời hiện đại được.

Advertisements
Posted in: Chính trị