Trí thức và nửa trí thức: Đến cả sự nhợt nhạt cũng giống nhau đáng sợ

Posted on Tháng Mười 4, 2011 bởi

0



Ngô Tự Lập
Nguồn: Blog Người Việt Nam

Cả hai hình thức giáo dục áp đặt đều được và vẫn tiếp tục được áp dụng một cách triệt để và bền bỉ ở Việt Nam. Ở trên đã nói đến Khổng Tử và Nho giáo, tôi xin dừng lại lâu hơn một chút.

Mặc dù đến Việt Nam gần như đồng thời với Phật giáo và Đạo giáo và trên thực tế chỉ có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần người Việt kể từ cuối đời Trần, ngay từ thời Bắc thuộc, Nho học đã là cánh cửa hầu như duy nhất – thông qua thi cử và đỗ đạt – để tiến thân. Trong văn học viết cũng như trong các giai thoại dân gian, chúng ta gặp biết bao nhiêu tấm gương phụ nữ tần tảo nuôi chồng hoặc nuôi con ăn học để lều chõng đi thi trong nỗi đợi chờ khắc khoải một ngày kia anh học trò vinh quy bái tổ rồi “một người làm quan cả họ được nhờ”.

Có thể nói rằng trong toàn bộ lịch sử Việt Nam cho đến thời Pháp thuộc, anh học trò đồng nghĩa với người học chữ Nho, tức chữ Thánh hiền, người uyên bác là người thông thạo Tứ thư Ngũ kinh và như thế, nhà Nho cũng có thể coi như đồng nghĩa với trí thức.

Nhưng đó là trí thức như thế nào? Để tìm một câu trả lời thực tế xin mời các bạn vào thăm Văn Miếu. Nền giáo dục cổ điển Việt Nam đã đào tạo hàng nghìn Tiến Sĩ, trong đó có hơn 50 Trạng Nguyên, nhưng có mấy người để lại một công tích gì đó cho đất nước ngoài một vài câu đối, một vài bài phú hay thơ Đường – thứ thơ Đường hạng hai, vừa muộn màng về thời gian, vừa non nớt về nội dung và nghệ thuật so với loại thơ Đường tầm tầm của Trung Quốc, chưa nói đến những bậc Thi Vương Thi Bá như Đỗ Phủ, Lý Bạch?..

Rợn ngợp dưới cái bóng quá lớn của các vĩ nhân, người học trò Việt Nam tự nhốt mình trong những khuôn phép bất di bất dịch, tự hạn chế mục đích của mình trong việc thi cử theo khuôn mẫu. Tính chất giáo điều của hệ thống thi cử hạn chế đến mức cao nhất tư duy sáng tạo. Kết quả là chính những người không có tư duy sáng tạo lại có nhiều cơ hội để đỗ đạt và thăng tiến.

Tình trạng này kéo dài hàng nghìn năm và chính nó đóng vai trò quyết định vào việc tạo nên tâm lý cam phận và thụ động của đại đa số người Việt, một tâm lý tiếp tục tồn tại và phát huy ảnh hưởng tiêu cực của nó ngay cả hôm nay.

Đến thăm các trường học của Việt Nam, ai cũng phải công nhận rằng học sinh Việt Nam chăm học. Tiếc thay, chăm học lại không hề đi đôi với chăm nghĩ. Vì thế có một thực tế có vẻ nghịch lý là sinh viên Việt Nam, kể cả những sinh viên du học ở nước ngoài, khi học có kết quả rất tốt, nhưng ra trường làm việc lại tồi.

Người Việt mọi thời đều khắt khe với cái mới nhưng lại khá dễ dãi trong việc nhân nhượng với quá khứ, chấp nhận đồ cũ và tôn vinh người chết. Trong lịch sử nước ta, những các nhân xuất sắc có tư duy sáng tạo thường phải chuốc lấy thảm hoạ. Tôi nhớ đến trường hợp Nguyễn Trãi. Tất nhiên những biến cố trong cuộc đời bi tráng của ông có yếu tố ngẫu nhiên, nhưng tôi cho rằng những yếu tố ngẫu nhiên ấy đã có một chất xúc tác quá mạnh là trí tuệ và tinh thần sáng tạo vô song của ông: Nguyễn Trãi là tác giả Dư địa chí, cuốn sách khoa học đầu tiên, là người làm ra “quốc thiều” và Cáo bình Ngô…, nhưng trên hết, ông là cha đẻ của văn học dân tộc bằng tiếng Việt.

Nền giáo dục áp đặt cũng dẫn chúng ta đến một sai lầm khá trầm trọng trong nhận thức khái niệm “trí thức”: người ta thường cho trí thức là người lao động “trí óc”, những người “có chữ”, hay thậm chí đồng nhất trí thức với người có bằng cấp. Nói đơn giản, chúng ta thường coi trí thức là người có nhiều kiến thức.

Nhưng thực ra có nhiều kiến thức mới chỉ là một nửa chặng đường. Để trở thành trí thức, theo tôi, người ta ta còn phải có xu hướng tìm tòi các vấn đề mới và cách giải quyết các vấn đề ấy. Không những thế, với người trí thức, việc tìm tòi các vấn đề và tìm tòi cách giải quyết vấn đề không phải là một công việc hay nhiệm vụ, mà là một nhu cầu tự nhiên, hệt như nhu cầu ăn uống hay hít thở.

Những người có nhiều kiến thức mà không tìm ra được vấn đề mới và cách thức giải quyết chúng thì chỉ có thể tồn tại chứ không thể giúp ích nhiều cho tiến bộ. Kiến thức vô cùng cần thiết, bởi lẽ để tìm ra vấn đề và cách giải quyết, chúng ta cần phải có một lượng kiến thức nhất định.

Nhưng ngoài kiến thức còn cần phải có thiên hướng sáng tạo. Điều này, thực ra thiên hướng sáng tạo cá nhân thì ai cũng có ở mức độ khác nhau, nhưng giáo dục có vai trò quyết định trong việc nhân lên, giảm bớt hay thậm chí là triệt tiêu nó. Dĩ nhiên, vấn đề còn phụ thuộc vào năng lực năng cá nhân trong việc chống lại áp lực của quá trình nhân bản vô tính, dù vô tình hay hữu ý, về mặt tinh thần.

Đáng buồn là nền giáo dục của chúng ta luôn luôn đi theo xu hướng tồi tệ nhất. Nếu để quan sát các em nhỏ, chúng ta sẽ thấy chúng độc đáo biết chừng nào. Ngay từ trong bụng mẹ, chúng đã khác nhau. Mỗi em bé có một kiểu nghĩ, mỗi em có một kiểu ngịch ngợm. Những câu hỏi chúng đặt ra bao giờ cũng làm bố mẹ vừa đau đầu vừa thích thú, bỡi lẽ chúng đa dạng biết chừng nào.

Vậy mà cùng với những năm tháng ở học đường, những câu hỏi của chúng ít và nhạt dần. Tốt nghiệp phổ thông, chúng gần như chỉ còn suy nghĩ bằng cái đầu của kẻ khác. Cuối cùng, sau khi học xong đại học, phần lớn trở nên giống nhau như đúc. Có thể nói không ngoa rằng đến cả sự nhợt nhạt, cam chịu, cũng như những thói hư tật xấu của chúng như giả dối, ích kỷ… cũng giống nhau một cách đáng sợ.

Ở đây tôi không muốn vơ đũa cả nắm, không muốn phủ nhận sạch trơn. Nhưng những kẻ ít ỏi tiếp tục đặt câu hỏi, tiếp tục trăn trở với những vấn đề của cuộc sống thì được coi là “hâm”, là vĩ cuồng hay hay thơ mộng hơn thì là “người trên mây, trên gió”.

Với quan niệm như trên, theo tôi, ở Việt Nam chưa có giới trí thức mà chỉ có một số nhà trí thức riêng rẽ. Trong số các nhà Nho xưa, cũng như các vị Tiến sĩ ngày nay, phần lớn vẫn chỉ đơn thuần là những “bồ sách”. Về thực chất, họ mới chỉ là nửa trí thức, khá nhất cũng chỉ đóng vai trò truyền bá các tri thức – mà trong rất nhiều trường hợp là những thứ được lượm lặt một cách ngẫu nhiên, vừa không chính xác, vừa phiến diện và cũ kỹ – trong một hệ thống giáo dục áp đặt như chúng ta vừa nghiên cứu ở trên.

Đó chính là vấn đề trầm trọng nhất của trí thức Việt Nam hiện nay, cái làm cho trí thức không có được vai trò xã hội mà đáng ra nó phải có. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, trí thức Việt Nam không ngừng kêu ca rằng họ bị coi thường, rằng chất xám ở Việt Nam được trả giá quá rẻ mạt. Nhưng tại sao chúng ta không đặt câu hỏi: “Liệu chất xám của chúng ta có đáng được trả giá cao hơn không? Và chất xám của chúng ta có thể làm được gì?”

Tôi không tin rằng cuộc sống lại thiếu công bằng đến mức trả tiền cao cho những gì vô ích và hoàn toàn quay lưng lại với những sáng tạo chân chính. Ngay cả trong trường hợp có những sáng tạo quá mới mẻ, vượt quá xa khả năng áp dụng của đất nước ta, thì chúng chắc chắn cũng sẽ tìm được nơi để áp dụng và mang lại lợi ích cho nhân loại.

Như vậy, việc xây dựng một đội ngũ trí thức, hay nói đúng hơn, việc biến đội ngũ nửa trí thức của chúng ta thành một đội ngũ trí thức thực thụ, đủ khả năng đảm đương vai trò đầu tàu của nó trong sự nghiệp phát triển của dân tộc, cũng chính là chặng đường còn lại của nền giáo dục dân tộc. Đó là một nhiệm vụ cấp bách và to lớn, không chỉ đòi hỏi nhiều tiền của, thời gian và ý chí, mà còn cả những thay đổi triệt để trong quan niệm và phương pháp giáo dục.

Advertisements
Posted in: Chính trị