Nói thêm một chút về quan điểm học thuyết duy vật lịch sử của các Mác

Posted on Tháng Mười 12, 2011 bởi

1



Võ Hưng Thanh
Nguồn: newvietart

Hầu hết những người cộng sản theo đúng nghĩa chân chất lâu nay, tức không nói những người hùa theo, ăn theo, tất yếu đều có sự cảm hứng và tin tưởng chắc chắn vào quan điểm lý thuyết duy vật lịch sử của Mác.

Nhưng quan điểm duy vật lịch sử là gì? Trước hết, trong thực chất, nó cũng chỉ là một quan niệm mang tính chất duy lịch sử (der Historismus). Tức là quan điểm coi lịch sử loài người thiết yếu có một quy luật khách quan riêng, chặt chẽ, máy móc của nó, như một tính chất tất yếu. Hay còn mặt khác, nó phải có một mục đích tiềm ẩn nhất định nào đó của nó. Đây thật sự là một quan điểm mang đầy tính chất siêu hình, tiền định, mông lung và mơ hồ, dẫm trên lên chính chính ý nghĩa tự do, tự chủ của con người cá nhân, thực tế, cụ thể, đặc thù trong xã hội.

Điều nguy hiểm của quan điểm duy lịch sử trừu tượng đó, là đã nuốt mất hết, làm cho bốc hơi đi, hay xem nhẹ chính con người khách quan, cụ thể thực tế trong đời sống như trên đã nói. Điều này, cũng có nghĩa quan niệm duy lịch sử của Mác, thực chất cũng chỉ là một hình thức huyễn hoặc, phi lý của quan niệm duy đích luận (die Teleologie) về xã hội. Hay nói khác đi, đó cũng còn chính là một quan điểm tất định luận (der Determinismus). Có nghĩa, ở đây thực chất nó cũng chỉ là một niềm tin mang tính cách thần bí, siêu hình có tính trá hình, hay thậm chí cũng có thể nói được, là sự mê tín.

Bởi nếu lịch sử chỉ là một quy luật phát triển tất yếu, đầy máy móc, nó sẽ phải dẫm đạp lên một cách dã man chính mọi sự tự do, và ý thức độc lập, tự giác, tự chủ nơi mỗi cá nhân con người sống trong xã hội. Đây là điều mà trong thực tế, chúng ta đã thấy nó nhiều lần được thực hiện. Và niềm tin tất yếu đó chỉ luôn luôn dẫn tới sự mù quáng là như thế.

Thật ra, quan niệm tất định luận về sự phát triển xã hội này của Mác, vốn đã được đặt nền tảng trên chính quan niệm duy vật biện chứng của ông ta. Bởi nếu không có quan niệm duy vật biện chứng, cũng không thể nào có được quan niệm duy vật về lịch sử đã nói. Có nghĩa cái gốc của nó là do từ chính khái niệm duy vật biện chứng mà có. Nhưng hai ý niệm duy vật, và ý niệm biện chứng, thật sự lại là hai ý niệm tuyệt đối trái ngược. Bởi vật chất thuần túy, thì không thể nào lại có khả năng biện chứng. Nói cách khác, ở đây chính Mác đã ghép bừa hai ý niệm vốn hoàn toàn tương phản với nhau theo cách tùy tiện. Điều này thật sự đã cho thấy tính nông cạn, khiên cưỡng, giả tạo trong tư tưởng của Mác, hay thậm chí, còn có thể nói được đây là một sự áp đặt, hay một sự phiên diễn hoàn toàn ngụy tạo của Mác.

Đó cũng là lý do tại sao quan điểm biện chứng về lịch sử của Mác, cũng chỉ được hiểu theo tính cách đó. Nó được hiểu như một sự tự triễn khai, hay sự phát triễn tự nhiên, theo tính cách máy móc, từ chính bản thân vật chất khách quan của lịch sử xã hội (die Entwicklung der Gesellschaft wie die Entwicklung des historischen Materialismus). Và trong ý nghĩa này, lịch sử chỉ được coi như một tiến trình phát triển phù hợp theo với quy luật vật chất đó (die Geschichte als ein gesetzmäßiges Prozeß) [MEW 4, 474-475, Mác -Awnghen Toàn tập tiếng Đức].

Bởi thế đến giai đoạn của Lenin, thì những tiền đề của duy vật biện chứng (die dialektisch-materialistische Prämisse) lại được gắn thêm vào với chính lý thuyết về các hình thái kinh tế (die Theorie der ökonomischen Gesellschaftsformationen), để trở thành như một sự biến chuyển của xã hội để đi từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội (der Übergang vom Kapitalismus zum Sozialismus). Lý thuyết là như thế, nhưng trong thực tế xã hội hiện nay, cả thảy thế giới đều đang chuyển hẵn sang bản thân của nền kinh tế thị trường toàn cầu, đó mới là điều đáng nói nhất.

Điều này, đã có nghĩa giữa lý thuyết của Mác và thực tế khách quan của lịch sử, đã hoàn toàn khôn phù hợp hay ăn khớp với nhau. Thật ra năm hình thái xã hội đã được Mác nêu ra, là hình thái cộng sản nguyên thủy, hình thái xã hội nô lệ, hình thái xã hội phong kiến, hình thái xã hội tư bản chủ nghĩa, và cuối cùng là hình thái xã hội cộng sản chủ nghĩa khoa học, chính là điều mà hiện tại đang bị hoàn toàn tắt tị.

Mác cho rằng mỗi hình thái xã hội như thế, đều gắn vào, hay biểu thị cho một giai đoạn đấu tranh giai cấp nhất định trong lịch sử của toàn xã hội. Trong mỗi hình thái đó, tất yếu phải có sự mâu thuẫn của hai giai cấp chính yếu theo kiểu mới, mà chủ yếu là do bởi sự mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Và Mác cũng cho rằng, chỉ ở trong hình thái xã hội cộng sản khoa học sẽ có trong tương lai, mới thật sự kết thúc mọi sự đối kháng giai cấp đã có trong lịch sử, và hết có đấu tranh giai cấp, bởi cũng hết còn giai cấp.

Chuỗi lý luận như trên của Mác, thật sự hoàn toàn hết sức nghịch lý, phi lô-gích, tư mâu thuẫn, và có tính áp đặt. Bởi vì, lý do gì mà vật chất lại có được năng lực biện chứng? Lý do gì mà năng lực biện chứng của vật chất ở trong lịch sử lại có mục đích? Còn về năm hình thái tất yếu của xã hội, không phải xã hội nào trong quá khứ cũng đã có chế độ nô lệ. Và hơn nữa, nếu hình thái xã hội cộng sản khoa học sau cùng không còn tự mâu thuẫn nữa, thì đó là do yếu tố vật chất thuần túy, hay là do yếu tố tinh thần, ý thức? Nhưng cái gì lại bảo đảm được cho điều đó? Vả chăng, yếu tố phát triển về khoa học kỹ thuật, là do trí tuệ sáng tạo của con người, hay chỉ do sự phát triển tự nhiên của vật chất? Tại sao lại có sự mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, khi mà cả hai tính chất này đều hoàn toàn có bản chất khác nhau, mục đích khác nhau? Mác cho rằng chỉ có hai giai cấp chính yếu đối kháng nhau trong xã hội, bằng sự thay đổi liên tục giữa chúng qua từng giai đoạn cụ thể của lịch sử. Nhưng ranh giới của mỗi gia đoạn xác định thế nào và do đâu mà có? Và sản xuất phát triển, đó là do chính tâm lý, ý thức đi lên của con người, hay chỉ do sự thay đổi trong tương quan nghịch lý và sự tranh chấp quyền lợi thực tế trong xã hội? Đó đều là những vấn nạn đặt ra mà không dễ gì quan điểm duy vật lịch sử có thể lý giải rành rẽ hay có tính hữu lý được.

Thật ra, năm hình thái xã hội (die ökonomische Gesellschaftsformationen) mà Mác đưa ra, thực chất chỉ là một sự tưởng tượng. Ông vốn chiếu theo các hình thái đã có của lịch sử quá khứ, để nhằm suy đoán ra cái sau cùng, chỉ theo kiểu diễn dịch chủ quan và tùy tiện. Bởi cái gì đã có, là cái đã thuộc về lịch sử. Còn cái gì chưa đến, là cái không thể quy thành kết luận, để rút ra được theo kiểu tiên nghiệm (a priori). Đó chẳng qua chỉ vì Mác quá ham thích xã hội cộng sản, nên ông đã tự ý kết hợp nó với quan điểm biện chứng trong triết học của Hegel, tự ý gắn nó vào với các giai đoạn lịch sử mà xã hội nhân loại đã có, để rồi tùy tiện suy ra cái chưa có, mà phỏng đoán nó thành cái sẽ tất có trong tương lai thế thôi.

Cho nên, quan điểm trong học thuyết duy vật lịch sử của Mác thật sự chỉ là một quan điểm đầy gán ép, gượng ép, không chính xác, không khách quan hay có tính tự nhiên. Nó phủ nhận, hay trái ngược lại với tâm lý, ý thức tự nhiên của xã hội con người, về quyền tư hữu, và sự phát triển của khoa học, kỹ thuật. Chính lực lượng sản xuất mới là cái quyết định hàng đầu, mà không phải là quan hệ sản xuất làm nền móng như Mác quan niệm. Sự suy luận độc đoán, bừa bãi của Mác, thật sự không thực tế và phi lý, nhưng trong những giai đoạn mà sự nhận thức của xã hội vẫn còn thấp kém như thế nào đó, con người vẫn có ảo tưởng, hay chỉ vì các mục đích ích kỷ, thiển cận, hay do sự thiếu nhận định chính xác, mà người ta đã từng có bao sự say mê, cuồng nhiệt, thậm chí cuồng tín, do vì thiếu nền tảng hay cơ sở nhận thức khách quan và thực tế, bởi do sự thiếu ý thức nhận thức khoa học đúng nghĩa, mà tất cả những điều đó cũng chỉ do những điều gì mà chính Mác đã tạo ra một cách hoàn toàn giả tạo.

V.H.H.
9.9.2011

Advertisements
Posted in: Chính trị