Ba trụ cột cho sự phát triển thịnh vượng, bền vững của nước Mỹ

Posted on Tháng Mười 14, 2011 bởi

0



Nguyễn Cảnh Bình*
Nguồn: Tia Sáng

Một bản hiến pháp hiệu quả và phù hợp

James Madison (1751-1836), người được mệnh danh là cha đẻ bản Hiến pháp Mỹ

Một ngôi nhà lớn cũng như một quốc gia hùng mạnh không thể chỉ xây dựng trên một trụ cột. Thực tiễn cho thấy nhà nước Mỹ thịnh vượng, bền vững như ngày hôm nay được xây dựng trên nhiều trụ cột, trong đó trụ cột thứ nhất chính là bản hiến pháp phù hợp với dân tộc Mỹ, khai thác được tiềm năng và đảm bảo khuôn khổ cho sự phát triển của đất nước.

Không một công ty, một doanh nghiệp nào khi mới thành lập tự nhiên đã là người khổng lồ, không một quốc gia nào tự nhiên sinh ra đã hùng mạnh. Quá trình phát triển của nước Mỹ trở thành một cường quốc như hiện nay cũng là sự hội tụ của nhiều yếu tố và trải qua nhiều biến động và thăng trầm của lịch sử và phát triển lâu dài. Cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, khi mới thành lập, nước Mỹ là một vùng đất hứa và là một quốc gia trung bình, có tiềm năng phát triển, chưa phải là cường quốc như Anh, Pháp, Tây Ban Nha… Vượt qua nhiều biến động thăng trầm từ những ngày dựng nước, đến công cuộc giải phóng nô lệ của Abraham Lincoln, vượt qua Chiến tranh thế giới thứ nhất dưới thời Woodthrow Wilson, đến cuộc đại khủng hoảng kinh tế và Chiến tranh thế giới thứ hai của thời kỳ Roosevelt những năm 1940, nước Mỹ mới trở thành một cường quốc. Rồi trải qua cuộc Chiến tranh Lạnh thời kỳ Kennedy và sự sụp đổ của Đông Âu năm 1989, Hoa Kỳ mới thực sự trở thành siêu cường…

Nước Mỹ được xây dựng nên như ngày hôm nay là nhờ ba trụ cột: (1) Một bản hiến pháp hiệu quả, phù hợp với dân tộc Mỹ, khai thác được tiềm năng của đất nước và đảm bảo khuôn khổ cho sự phát triển. Đại diện tiêu biểu là James Madison, Cha đẻ bản Hiến pháp Mỹ; (2) Vai trò của những chính trị gia, nhà lãnh đạo xuất chúng, có tầm nhìn đã hoạch định và thực thi được các chính sách phù hợp với bản Hiến pháp đã được thiết lập. Nhân vật tiêu biểu nhất là Alexander Hamilton, Bộ trưởng Tài chính đầu tiên. (3) Một nền giáo dục lành mạnh, thực tiễn để đào tạo ra các thế hệ công dân khai sáng, có kiến thức và hiểu biết, từ đó hình thành các thế hệ lãnh đạo tương lai tài giỏi cho đất nước… Nhân vật tiêu biểu là Thomas Jefferson, Tác giả Tuyên ngôn Độc lập, Tổng thống thứ ba của Mỹ.

Các thế hệ lãnh đạo đầu tiên của nước Mỹ nhận thức và hiểu được rằng, nền độc lập giành được từ người Anh là chưa đủ để đảm bảo việc xây dựng một quốc gia thịnh vượng. Năm 1787, khi tham dự Hội nghị Lập hiến, George Mason người soạn Tuyên ngôn Nhân quyền cho bang Virginia đã viết thư cho con trai: “Cuộc Cách mạng giành độc lập từ nước Anh và quá trình xây dựng chính quyền mới lúc đó chẳng là gì so với công trình vĩ đại [Ý nói là việc soạn bản Hiến pháp] đang ở trước mắt cha… Việc thiết lập chính quyền này có thể sẽ mang lại hạnh phúc hay đau khổ cho hàng triệu người, cả hiện nay và trong tương lai. Đó vẫn là mục tiêu cao cả, đầy hấp dẫn và thách thức sự hiểu biết của loài người.”

Các sử gia trên thế giới đều đánh giá rằng có hai văn bản quan trọng nhất làm cơ sở cho sự hùng mạnh và bền vững của nước Mỹ là bản Tuyên ngôn Độc lập được soạn năm 1776 và Hiến pháp Mỹ soạn thảo năm 1787. Có thể nói bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ mà sau này được Hồ Chủ tịch trích dẫn trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước ta năm 1945 chính là bản tuyên bố sứ mệnh, mục tiêu của người dân Mỹ mong muốn xây dựng một quốc gia độc lập, thịnh vượng… Còn bản Hiến pháp Mỹ là bộ luật tối cao, là khuôn khổ, là công cụ để người dân và chính phủ Mỹ đạt được mục tiêu mà Tuyên ngôn Độc lập đã nói. Có thể coi Tuyên ngôn Độc lập là văn bản thể hiện ý chí, khát vọng và tình cảm còn bản Hiến pháp Mỹ thể hiện lý trí, sự khôn ngoan và sự trù liệu kỹ càng để người dân Mỹ đạt được mục tiêu đó.

Trong những bản hiến pháp đang có hiệu lực trên thế giới hiện nay, Hiến pháp Mỹ là bản hiến pháp cổ xưa nhất với lịch sử tồn tại trên 220 năm và đến nay, bản Hiến pháp Mỹ đã được sửa đổi 27 lần nhưng trừ 10 tu chính án đầu tiên là Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill of Rights) ban hành ngay sau khi thông qua hiến pháp thì những lần sửa đổi sau chỉ sửa, bỏ đi hay thêm các điều khoản nhỏ chứ không phải viết lại mới hoàn toàn. Về căn bản, cấu trúc của chính quyền, quyền hạn, tổ chức, cách bầu chọn các cơ quan của Liên bang Hoa Kỳ vẫn không thay đổi so với khi Hiến pháp được soạn ra… Các sử gia và chính khách Mỹ đều khẳng định rằng bản Hiến pháp Mỹ đã đặt nền tảng cho quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, góp phần quan trọng biến một miền đất của 13 tiểu bang lỏng lẻo và yếu kém bên bờ Đại Tây Dương đang đứng trước nguy cơ tan rã và nội chiến đã trở thành một quốc gia hùng mạnh như hiện nay.

Tại Hội nghị lập hiến, Benjamin Franklin đã kêu gọi những đại biểu khác ủng hộ bản Hiến pháp và tự đánh giá bản thân: “Tôi thừa nhận rằng lúc này có nhiều điểm trong bản Hiến pháp tôi không thể chấp nhận, nhưng tôi không chắc rằng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận nó. Tôi đã sống đủ lâu để hiểu rằng chúng ta không nên dựa quá nhiều vào sự phán xét của chính bản thân mình. Tôi thường thấy mình sai lầm ngay tại những điều ưng ý nhất. Khi tôi càng nhiều tuổi, tôi càng nghi ngờ sự phán xét của chính mình và quan tâm chú ý hơn đến những nhận xét của người khác. …Với những suy nghĩ đó, thưa Ngài Chủ tịch, tôi đồng ý với bản Hiến pháp này với mọi lỗi lẫm của nó, nếu có, bởi tôi nghĩ rằng chúng ta cần một chính quyền chung… Tôi cũng nghi ngờ rằng không một Hội nghị nào có thể làm ra được một bản Hiến pháp tốt đẹp hơn. Thưa Ngài, tôi nghĩ bản Hiến pháp này cũng làm những kẻ thù của chúng ta ngạc nhiên, những kẻ đang tin tưởng trông chờ rằng chúng ta cũng giống như những người xây dựng Tháp Babel; rằng các tiểu bang của chúng ta đang ở bên bờ miệng vực của sự tan rã, gặp nhau tại đây chỉ để cắt cổ họng của người khác.”

Trong suốt 10 năm sau cuộc cách mạng Mỹ 1776-1786, chính dân tộc Mỹ đó, những con người đó, đất đai đó với 13 tiểu bang khá độc lập với nhau liên minh với nhau dưới một bản Hiến pháp mờ nhạt năm 1781 mang tên Các điều khoản Hợp bang đã tạo nên tình trạng rất lộn xộn, thậm chí có nguy cơ tan rã do thiếu vắng một chính quyền hiệu quả. Theo mô hình này, cả 13 tiểu bang chỉ thuần túy tham gia liên minh với nhau chứ không có một chính quyền chung. Cơ quan điều hành khi đó là Quốc hội Hợp bang, nhưng về hình thức cũng chỉ giống như đại hội đại biểu các tiểu bang nhưng không có thực quyền, không có bộ máy hỗ trợ, không có tòa án, không có quân đội nên không thể điều hành liên minh hiệu quả, khiến nước Mỹ đứng trước nguy cơ nội chiến và tan rã. Trước thực trạng đó, James Madison cho rằng, điều đầu tiên cần là phải xây dựng được một mô hình, một thể chế phù hợp và hiệu quả, tức là cần soạn thảo một bản hiến pháp mới, làm nền tảng cho một quốc gia muốn thịnh vượng và bền vững.

Đây là ý tưởng rất thông minh bởi lúc đó hầu hết các chính trị gia đương thời sa lầy vào những cuộc tranh luận vô bổ tại Quốc hội Hợp bang mà Madison cho là những tranh luận vụn vặt. Hầu hết những người dân Mỹ và cả các chính khách khác đều bất bình với những rối ren lộn xộn. Khi cuộc sống không được đảm bảo, sự lộn xộn về kinh tế và cả chính trị khiến đất nước không phát triển nên họ đã chỉ trích chế độ đương thời và mong muốn sự thay đổi. Những tiếng la ó có ở khắp mọi nơi, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân xuất hiện đòi lật đổ chính quyền cộng hòa non trẻ do mất niềm tin. Thậm chí, còn có đề xuất 13 tiểu bang khi đó nên chia thành ba quốc gia Bắc, Trung, Nam hoặc mời một vị hoàng gia ở châu Âu sang làm Vua nước Mỹ. Nhiều chính trị gia khác thể hiện thái độ bất mãn hoặc thờ ở, bàng quan với thời cuộc.

Nhưng James Madison và Alexander Hamilton đều có cách tiếp cận và xử lý vấn đề với tinh thần xây dựng và sáng tạo. Cả hai nhân vật này khi đó mới 36 và 30 tuổi. Họ đều là những chính trị gia trẻ, tiêu biểu cho thế hệ chính khách thứ hai của Mỹ, đã hợp tác và chia sẻ quan điểm với nhau và cùng thống nhất mục tiêu chúng là nỗ lực vận động xây dựng một chính quyền Liên bang mới, mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn. Họ đều thống nhất rằng nước Mỹ cần một chính quyền liên bang mạnh và hiệu quả chứ không phải là một nên dân chủ thái quá và lộn xộn. Với suy nghĩ đó, Madison và Hamilton đã nỗ lực vận động chính giới Mỹ tổ chức Hội nghị Lập hiến tại Philadenphia từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1787, tập hợp các chính khách và lãnh tụ có uy tín của cả 13 tiểu bang để soạn thảo ra một bản Hiến pháp mới.

Lịch sử thế giới đã chứng kiến nhiều quốc gia hùng mạnh nhưng rồi lại lụi tàn, từng có nhiều đế chế ban đầu được lập nên bởi những vị vua khai sáng, uy tín và đức hạnh, nhưng rồi lại chấm dứt bằng chế độ độc tài, chuyên chế hoặc rồi lại vô kỷ cương, vô chính phủ với một ông vua bù nhìn, nhu nhược, ngu dốt… Vì thế, Madison hiểu rằng để xây dựng được một mô hình chính quyền hiệu quả, thì cần phải hiểu cặn kẽ mọi ngóc ngách của các mô hình chính quyền từng tồn tại trên thế giới rồi tìm ra một mô hình phù hợp. Để chuẩn bị cho Hội nghị Lập hiến, mùa Xuân-Hè năm 1786, Madison rời bỏ mọi công việc tại chính quyền tiểu bang và liên bang, một mình lặng lẽ trở về ngôi nhà của ông ở Montperlier, tiểu bang Virginia mải mê vùi đầu vào hàng trăm cuốn sách. Ðó là những cuốn rất nổi tiếng của các tác giả Thế kỷ Ánh sáng như Khế ước Xã hội, Tinh thần Pháp luật, Về Một Cộng đồng hoàn hảo và những cuốn khác về lịch sử tồn tại và diệt vong của các nhà nước Hy Lạp và La Mã cổ đại, Hợp bang Thuỵ Sĩ thế kỷ 14, Liên bang Bỉ, Phổ giữa thế kỷ 17… Madison đặt mục tiêu tìm ra những nguyên lý và trở ngại cho sự hoạt động bền vững của chính quyền. Madison nghiền ngẫm những ý tưởng và rồi viết những điều ông thấy bổ ích về những đặc điểm hình thành và nguyên nhân sụp đổ của các mô hình trên thế giới vào cuốn sổ nhỏ có tên là Những ghi chép về các mô hình liên bang cổ xưa và hiện đại. Rồi ông tự ghi chép và phân tích những điều yếu kém của thể chế Hợp bang của Mỹ khi đó vào cuốn Những trục trặc trong hệ thống chính quyền Mỹ. Ông quá thông minh và đã rất thực tiễn khi hiểu rằng để xây dựng một mô hình nhà nước Mỹ vững mạnh thì cần phải tìm ra những nguyên lý đúng đắn trên cơ sở cả lý thuyết và thực tiễn.

Tìm hiểu tất cả những điều đó đã dẫn Madison đến kết luận rằng, dù hoàn toàn đồng ý với Jefferson rằng “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” nhưng Madison lại cho rằng rồi đây trong cuộc đời, mỗi người chúng ta sẽ trở nên rất khác nhau. Chúng ta trưởng thành khác nhau, sở hữu những tài sản và trí tuệ khác nhau và tất yếu sẽ có những quan điểm khác nhau. Hơn nữa, con người rồi sẽ tự tìm những biện pháp để bảo vệ tài sản và quan điểm của mình, đó là những nhóm lợi ích. Ông viết thêm: “Mọi xã hội văn minh tất yếu đều chia thành những tầng lớp khác nhau với lợi ích khác nhau, tất yếu sẽ tạo ra những con nợ và chủ nợ, người giàu và người nghèo, nông dân, nhà buôn hay người thợ sản xuất…” Ðối với Madison, sự bình đẳng có nghĩa là các tầng lớp, phe phái và các nhóm lợi ích khác nhau đó phải có cơ hội và điều kiện tự bảo vệ mình và để kiểm soát lẫn nhau. Do vậy, ông kết luận rằng “Ước nguyện lớn lao nhất của một chính quyền là sự cân bằng đủ để trung lập những xung đột đó, để kiểm soát bộ phận dân chúng này không chiếm dụng quyền và áp bức các bộ phận khác, và tự kiểm soát mình khỏi việc ban thành những đạo luật đi ngược lại lợi ích chung của toàn xã hội.”

Từ những nghiền ngẫm này, Madison bắt đầu hình thành phác thảo của riêng ông về mô hình chính quyền liên bang Mỹ. Ông cũng viết rất nhiều thư cho Jefferson, Washington và các chính trị gia khác để thảo luận về mô hình này. Nhờ những kiến thức từ lý thuyết, thực tiễn và những trao đổi, tranh luận mà khi tới dự Hội nghị Lập hiến, Madison đã có sự chuẩn bị hơn hết thảy các đại biểu khác. Quan điểm và những lập luận về mô hình nhà nước liên bang của ông đã thuyết phục được hội nghị. Dù không phải tất cả các dự định của ông được thông qua nhưng phác thảo của ông đã trở thành nền tảng cho mô hình nhà nước liên bang Hoa Kỳ. Các đại biểu khác không có sự chuẩn bị chu đáo như ông tới mức ông được ca ngợi rằng là người duy nhất hiểu cặn kẽ mọi vấn đề về Hiến pháp trong khả năng mà trí tuệ con người có thể vươn tới được, bởi ở ông là sự kết hợp tuyệt vời giữa một chính trị gia xuất sắc và một học giả uyên thâm. Ông là bộ não, là “Cha đẻ bản Hiến pháp Mỹ”

Vấn đề mấu chốt đối với ông là phải xây dựng được một hệ thống chính quyền đại diện cho dân chúng theo một cách thức phù hợp nhất, ổn định nhưng không quá bảo thủ, năng động nhưng không quá vội vàng và đủ đảm bảo sự bình đẳng giữa nhóm lợi ích khác nhau đó. Ví dụ như đa số không được đàn áp thiểu số và ngược lại thiểu số không chiếm đoạt quyền của đa số, ví như tránh nguy cơ những con nợ hợp sức tự xoá bỏ những món nợ, ngược lại các chủ nợ không được chèn ép và bức bách họ. Trong khi một số đại biểu ủng hộ mô hình chính quyền tập trung mạnh bằng cách sáp nhập tất cả các tiểu bang thành một quốc gia duy nhất; một số khác muốn duy trì quyền tự quyết và tự chủ của tiểu bang và các tiểu bang chỉ liên minh với nhau; còn đa số các đại biểu khác không có chính kiến và thiếu sự hiểu biết sâu sắc về chính quyền thì Madison kiên quyết ủng hộ mô hình nhà nước liên bang.

Sau này, Madison cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thông qua Hiến pháp ở Virginia, rồi hợp tác với Alexander Hamilton viết loạt các bài luận Người Liên bang để giải thích và vận động người dân Mỹ hiểu và phê chuẩn Hiến pháp.

***

Lãnh đạo tài năng, có tầm nhìn

Alexander Hamilton (1757–1804), Bộ trưởng Ngân khố đầu tiên của Hoa Kỳ

Nhân vật tiêu biểu nhất cho những nhà lãnh đạo này là Alexander Hamilton, được coi là chính trị gia kiệt xuất nhất của Mỹ. Sau này, ông là Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của Mỹ, và được coi là “kiến trúc sư” cho nền kinh tế và chính trị Mỹ thời dựng quốc.

Trong giai đoạn lập quốc của nước Mỹ kể từ những xung đột đầu tiên với người Anh đầu những năm 1770 đến khi thiết lập xong nhà nước Liên bang Hoa Kỳ năm 1792, nước Mỹ đã trải qua hai thế hệ lãnh đạo. Thế hệ đầu tiên tiêu biểu là George Washington (1732-1799), là Tổng tư lệnh quân đội Mỹ thời kỳ Cách mạng và những nhân vật kiệt xuất như Benjamin Franklin (1706-1790), chính khách Mỹ, Thống đốc bang Massachusetts, người có hình trên tờ 100 đô la, Patrick Henry Lee (1732 – 1794), người khởi xướng nền độc lập cho các thuộc địa, Chủ tịch đầu tiên của Quốc hội Hợp bang… và George Mason (1725-1792), cha đẻ Tuyên ngôn Nhân quyền của tiểu bang Virginia và Đạo luật Nhân quyền Mỹ năm 1790, John Hancock (1737-1793), Chủ tịch Quốc hội Hợp bang, người đầu tiên ký Tuyên ngôn Độc lập Mỹ… 

Thế hệ đầu tiên này (trừ Benjamin Franklin) sinh ra trong khoảng những năm 1730-1745 với lòng quả cảm và là thế hệ đầu tiên dẫn dắt và lãnh đạo cuộc Cách mạng Mỹ dẫn đến nền độc lập… Nhưng tư duy chính trị của các nhân vật này mới dừng lại ở lòng yêu nước, sự nhiệt thành và mong muốn một xây dựng đất nước thịnh vượng. Thành tựu lớn lao nhất của thế hệ đó là cuộc cách mạng giành độc lập với người Anh mà “sản phẩm tinh hoa kết tinh” nhất chính là bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776…

Thế hệ chính khách, lãnh đạo thứ hai của Mỹ tiêu biểu là James Madison (1751-1836); Alexander Hamilton (1759-1804); John Marshall (1755-1835), Chánh án Tòa án Tối cao Mỹ, Chánh án vĩ đại nhất đã làm nên sự độc lập của ngành tư pháp Mỹ; James Monroe (1758-1831), Tổng thống thứ 5; Edmund Randolph (1753-1813), Thống đốc Virginia, Ngoại trưởng Mỹ… Thế hệ này sinh ra trong giai đoạn 1750-1760, khi Cách mạng Mỹ nổ ra, họ mới khoảng 20 tuổi nhưng được học hành bài bản hơn. Khi trưởng thành họ bắt đầu chứng kiến và tham gia cuộc Cách mạng Mỹ và đặc biệt là họ nhìn thấy được những yếu kém của nền chính trị Mỹ thời kỳ Hợp bang sau khi giành độc lập. Thành tựu lớn lao nhất của họ là kế tục sứ mạng dẫn dắt quốc gia non trẻ từ tay thế hệ thứ nhất để xây dựng chính quyền Liên bang Hoa Kỳ vững mạnh hơn và “sản phẩm trí tuệ” tiêu biểu tinh hoa nhất của họ chính là bản Hiến pháp Mỹ.

Tôi nhận thấy, mỗi thế hệ chính khách Mỹ đều mang trong mình một sứ mệnh lịch sử và họ hoàn thành tốt sứ mệnh này. Với thế hệ đầu tiên, sứ mạng đó là giành độc lập cho các thuộc địa và thế hệ thứ hai là tạo dựng nền tảng cho một nhà nước Liên bang trên nền độc lập đó. Các thế hệ tiếp theo lại có sứ mệnh xây dựng một nhà nước Mỹ thịnh vượng trên cái nền tảng đó, hoặc xử lý những khủng hoảng của quốc gia, của thế giới mà họ gặp phải.

Quan điểm của Hamilton là để phát triển một quốc gia thì một bản hiến pháp tốt là chưa đủ, nó cần phải được thực thi bởi những cá nhân xuất sắc và với tư tưởng xuất sắc, có tầm nhìn và cả một thế hệ lãnh đạo, một ê kíp lãnh đạo tài năng.

Trước khi Hội nghị Lập hiến nhóm họp một năm, tại Hội nghị Annapolis năm 1786, Hamilton và Madison thống nhất quan điểm cần có một mô hình chính quyền mới mạnh mẽ và hiệu quả hơn nhưng dường như có sự phân công nhiệm vụ giữa hai chính trị gia trẻ trung này. Madison dành cả một năm tìm hiểu về các mô hình nhà nước cổ xưa và hiện đại để rồi phác thảo một bản hiến pháp phú hợp nhất cho nước Mỹ. Còn Hamilton đã dành thời gian nghiền ngẫm về những gì rồi đây nước Mỹ sẽ phải làm. Ông cho rằng, nước Mỹ cần phải được xây dựng trên một trật tự mới, có một bản hiến pháp mới với một chính quyền mới nhưng Hamilton còn muốn rằng chính quyền mới phải thực thi được những chính sách kinh tế, tài chính, thương mại, và cả ngoại giao, quốc phòng phù hợp. Vì thế, trong khi những chính khách khác mải mê tranh cãi tại Quốc hội, sa đà vào những lợi ích và mưu đồ cá nhân hoặc than vãn với nhau, còn Madison đang mải mê với những ý tưởng về Hiến pháp và mô hình nhà nước Liên bang thì Hamilton trở về New York nghiềm ngẫm và trù liệu những chính sách mới mà nước Mỹ rồi sẽ phải thực thi. Tôi rất lấy làm thú vị khi Hmailton còn đặc biệt khôn ngoan khi dự trù trước rằng có thể Washington làm Tổng thống, có thể mình sẽ thành Bộ trưởng Tài chính… Chính những sự chuẩn bị đó khiến ông vượt trên các chính khách khác đương thời khi chính quyền mới được thiết lập và chương trình hành động của ông đã thắng thế.

Đại biểu Quốc hội Hợp bang khi đó khá yếu kém, sa đà vào các tranh cãi vụn vặt. Hầu hết các chính khách khi đó đều chỉ đại diện cho các lợi ích địa phương, cục bộ. Mải mê theo đuổi lợi ích và chức vụ riêng… mà không thảo luận, suy nghĩ nghiêm túc về tầm nhìn và hướng phát triển của dân tộc. Washington và Hamilton gọi họ là những chính trị gia thiển cận, hẹp hòi, theo chủ nghĩa địa phương. Vai trò họ quá mờ nhạt và không mang lại sự thay đổi. Hầu hết các chính khách khi đó loay hoay giữa lợi ích cá nhân và lợi ích đất nước, chẳng biết đi về đâu…

Do kinh tế khó khăn, nhiều cuộc nổi dậy của nông dân xuất hiện ở vài nơi trên nước Mỹ, bất ổn trong xã hội xuất hiện, nông dân mất niềm tin vào chính quyền, ngân khố trống rỗng, uy tín của chính quyền cộng hòa giảm sút nghiêm trọng, và hầu như không ai có được một giải pháp nào toàn diện… Tương lai của liên minh 13 tiểu bang bị nghi ngờ đến mức khi đó Hamilton viết thư cho Washington rằng cả nước Mỹ đang sôi lên và chỉ cần một mồi lửa cũng đủ để bùng lên cả đám lửa. Hamilton nghĩ về một tương lai mạnh mẽ hơn, ông muốn và ủng hộ mô hình chính quyền Anh. Vì thế, ông liên kết với James Madison để vận động theo hướng ông tin tưởng.

Trong bức thư gửi Washington ngày 3 tháng Bảy năm 1787, Hamilton viết:

Trong chuyến đi của tôi về New Jersey và từ khi đến đây, tôi đặc biệt lo âu khi nhận thấy tâm trạng của công chúng và càng tin tưởng rằng Hội nghị Lập hiến này là cơ hội sống còn cuối cùng cho chúng ta thiết lập lại sự thịnh vượng của đất nước trên một nền tảng vững chắc hơn. Tôi cũng nói chuyện với những người hiểu biết, không chỉ ở thành phố này mà còn ở nhiều miền trong tiểu bang. Họ đồng ý rằng một cuộc cách mạng kỳ diệu mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn đang ở trong tâm trí tất cả mọi người. Họ nghĩ rằng do nỗi sợ hãi làm chấn động công chúng nên Hội nghị này sẽ không tiến đủ xa. Họ dường như tin rằng một mô hình nhà nước vững mạnh sẽ phù hợp với sự trông chờ của công chúng hơn là bất kỳ mô hình nào khác. Bất chấp việc những viên chức chính quyền đang làm mọi cách có thể để tạo ra những mối ác cảm về Hội nghị này, xu hướng chung hiện nay dường như đi theo hướng ngược lại.

Xin thú thật với Ngài rằng tôi rất lo âu về những chia rẽ bè phái tại Hội nghị khi tôi rời Philadelphia. Tôi sợ rằng chúng ta sẽ bỏ lỡ “cơ hội vàng” cứu vãn nước Mỹ khỏi sự chia rẽ, tình trạng hỗn loạn vô chính phủ và cảnh nghèo đói. Không có một biện pháp hỗn tạp hay yếu ớt nào có thể giải quyết dứt điểm vấn đề này. Cần phải có quyết định sáng suốt và không có gì mang lại sự thành công cho Hội nghị này bằng sự hài lòng của dân chúng.

Trong suốt thời kỳ trước và sau Hội nghị Lập hiến, Hamilton đã nghiền ngẫm rất nhiều sách lược, xây dựng một tầm nhìn, phát triển ê kíp lãnh đạo và hoạch định chiến lược về kinh tế, tài chính. Chính ông là người dựng ra tầm nhìn cả 100 năm cho nước Mỹ với rất nhiều hành động phi thường như lập ngân hàng quốc gia, thống nhất tiền tệ, thuế khóa, thúc đẩy sản xuất trong nước, tìm kiếm liên minh và quan hệ với nước Anh… Sau này, dù không còn tham chính những học thuyết và chính sách của ông vẫn được thực thi.

Ngay sau khi nhậm chức, Hamilton đã thuyết phục Washington ký hiệp ước thương mại với người Anh chứ không phải với người Pháp, bất chấp việc Pháp là đồng minh và ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh giành độc lập. Ông cho rằng, để đất nước Mỹ phát triển, cần phải xây dựng mối quan hệ thương mại với cường quốc của thế giới dù cho đó là kẻ thù ngày xưa. Hamilton cũng thiết lập uy tín cho quốc gia, thiết lập Ngân hàng Quốc gia Mỹ, tiền thân của FED sau này, thống nhất các loại tiền của các tiểu bang về liên bang. Ông cũng xây dựng một loạt đạo luật liên quan đến việc đánh thuế và thúc đẩy sản xuất trong nước.

Hamilton là tiêu biểu cho cả một thế hệ lãnh đạo khai sáng, chân chính… Ông nỗ lực làm tất cả những gì có thể, sáng tạo ra những quan điểm mới và chính sách mới, thậm chí diễn giải hiến pháp để bào chữa và bênh vực cho chính sách mà ông sẽ làm…

***

Hệ thống giáo dục gắn với thực tế và khai sáng

Một hệ thống giáo dục thực sự dân chủ và khai sáng mới đào tạo ra các thế hệ công dân tốt và hình thành các thế hệ lãnh đạo tài năng tiếp nối.

Vĩ nhân tiêu biểu và là lãnh tụ đóng góp lớn nhất cho quan điểm này chính là Thomas Jefferson, Tổng thống thứ 3 và tác giả Tuyên ngôn Độc lập. Jefferson cho rằng việc có bản hiến pháp tốt là chưa đủ, việc có các nhà người lãnh đạo giỏi, có tầm nhìn… cũng chưa đủ đảm bảo cho một quốc gia bền vững và thịnh vượng. Bởi khi thế hệ lãnh đạo đó mất đi, nếu không có thế hệ lãnh đạo tài năng mới thì thể chế đó cũng sớm lụi tàn. Vì thế, ông cho rằng cần nhiều thế hệ lãnh đạo tài năng, kế tục, nối tiếp nhau, như một ngôi nhà cần phải được xây dựng bằng nhiều lớp gạch… Và xa hơn, cần một dân tộc được khai sáng, cần những thế hệ công dân có giáo dục…

Quan điểm của Thomas Jeffferson đặc biệt hấp dẫn và có tầm nhìn rất xa. Trong lịch sử Việt Nam và thế giới, chúng ta cũng thường chứng kiến rất nhiều triều đại, nhiều quốc gia được sáng lập bởi các vị vua anh minh nhưng rồi lại tàn lụi khi không còn người lãnh đạo giỏi tiếp nối. Vì thế, điều then chốt là phải tạo dựng một nền giáo dục thực sự khai sáng. Cần một thế hệ công dân tốt, được khai sán… để từ chính họ nảy sinh những nhà lãnh đạo tài năng mới… để họ có thể lựa chọn được nhà lãnh đạo tốt… mạnh dạn, dám nói, dám làm.

Và Jeffferson đã làm gì? Ông đã cho xây dựng Trường Đại học Virginia, cải cách hệ thống giáo dục, nỗ lực phát triển hệ thống thư viện rộng khắp. Ông đã tặng toàn bộ thư viện 6.000 cuốn sách hay nhất, hữu ích nhất của mình cho Thư viện Quốc hội Mỹ và lan tỏa ý tưởng phát triển một hệ thống thư viện khắp cả nước. Trường Đại học Virginia đi đầu trong việc cải cách chương trình giáo dục…

Một câu hỏi luôn đặt ra trong tâm trí Jefferson, đó là liệu nhà nước cộng hòa Mỹ vừa được thiết lập sẽ duy trì sự tồn tại và phát triển như thế nào? Ông thuộc thế hệ đã làm nên cuộc Cách mạng Mỹ và là một trong những nhà lãnh đạo hàng đầu của đất nước có nhiệm vụ thiết lập chính quyền trên nền tảng mới; nhưng chính ông lại nghi ngờ rằng những thể chế chính quyền dù được thiết lập hoàn hảo cũng không đủ bảo đảm tự do, độc lập và thịnh vượng lâu dài trên đất nước Mỹ, bởi ông tin rằng phải chính những người dân được học hành, có kiến thức mới bảo vệ được quyền lợi và sự tự do của mình.

Jefferson viết “Giáo dục làm người ta ý thức được cội nguồn dân tộc, biến đổi những thói xấu cố hữu thành những đức tính tốt đẹp, có lòng nhân ái. Không phải ai khác mà chính từng thế hệ, kế thừa kiến thức của những người đi trước, bổ sung vào đó những điều mới mẻ, không ngừng nâng cao kiến thức và thịnh vượng cho nhân loại…” Jefferson tin rằng giáo dục và quyền công dân là không thể tách rời và khẳng định những điểm mấu chốt nhất về vấn đề này là: (1) dân chủ không thể tồn tại lâu dài nếu không có sự khai sáng (dân trí, kiến thức); và (2) dân chủ không thể được thi hành đúng đắn nếu không có những viên chức chính quyền khôn ngoan và trung thực. Ông viết: “Không bao giờ và sẽ không bao giờ một quốc gia ngu dốt lại giành được sự tự do”. Với ông, sự ngu dốt và sự dân chủ, thịnh vượng của quốc gia không bao giờ cùng tồn tại, cái này sẽ phá hỏng cái kia hoặc ngược lại. Một chính quyền chuyên chế sẽ kìm kẹp và cướp đi quyền tự do của dân chúng nếu họ ngu dốt.

Với ông, giáo dục phổ thông rất quan trọng và là sự bổ sung cần thiết cho một chính quyền tự do vì “Mọi chính quyền đều sẽ thoái hoá và suy đồi nếu chỉ dựa vào tầng lớp cai trị. Bản thân dân chúng mới là bức tường thành duy nhất bảo vệ nền dân chủ và đảm bảo sự phát triển bền vững. Nhưng để xã hội được an toàn thì trí tuệ và kiến thức của họ phải được cải thiện đến một mức độ nào đó, vì những người bỏ phiếu cần phải được chuẩn bị sao cho anh ta có thể trình bày được ý kiến của mình một cách đúng đắn bằng chính lá phiếu”.

Ông tin rằng giáo dục tiểu học quan trọng hơn nhiều so với giáo dục bậc đại học, “bởi điều đó sẽ đảm bảo một xã hội an toàn hơn khi toàn bộ dân chúng có được trình độ học vấn một cách tương đối hơn là nếu chỉ một ít có trình độ rất cao nhưng đa số lại dốt nát như ở Châu Âu” vì bằng việc biết đọc, biết viết, mọi người dân đều trở thành những “người bỏ phiếu” có chất lượng, được thông tin đầy đủ và hiểu được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Thậm chí, Jefferson cho rằng cần phải tước quyền bầu cử của những công dân lười biếng, không chịu tiếp cận nền giáo dục do chính quyền tạo ra. Nâng cao dân trí của nhân dân nói chung sẽ xoá bỏ sự chuyên chế và áp bức về vật chất lẫn tinh thần, như thể những ý tưởng đen tối lộ rõ trước buổi bình minh.

Để thực hiện tư tưởng của mình, ngay từ khi cuộc Cách mạng Mỹ nổ ra, Thomas Jefferson đã muốn cải cách trường William & Mary, nơi ông học trước đây. Ông muốn biến cơ sở giáo dục buồn tẻ và yếu kém này thành một “vườn ươm” nuôi dưỡng các thế hệ mới sôi nổi, nhiệt thành và gắn bó với mục tiêu xây dựng một xã hội tốt đẹp. Với ông, chỉ thông qua khoa học các kiến thức mới mẻ sẽ được phát hiện và việc áp dụng các kiến thức này sẽ dẫn tới sự tự trị và sự khai sáng của loài người. Ông cho rằng tài năng có thể phân bố ngẫu nhiên trong toàn xã hội bất kể giàu nghèo, địa vị, tầng lớp nhưng năng lực thực sự chỉ xuất hiện khi được giáo dục cẩn thận.

Là Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ (1801-1808), cảm thấy bổn phận phải cống hiến và xây dựng đất nước, Jefferson đã đệ trình Quốc hội một điều khoản sửa đổi Hiến pháp nhằm buộc chính quyền phải có trách nhiệm đối với giáo dục. Trong bức Thông điệp Liên bang ngày 2/12/1806, ông viết “Giáo dục cần phải được coi là mối ưu tiên của toàn xã hội… Tôi nghĩ rằng đạo luật quan trọng nhất trong toàn bộ hệ thống pháp luật của chúng ta chính là qui định bắt buộc phổ biến kiến thức cho mọi người dân. Không nền tảng nào đảm bảo tự do và hạnh phúc của dân chúng bằng nền tảng giáo dục”. Chính phủ phải có trách nhiệm, chính xác hơn là bổn phận thiêng liêng hỗ trợ giáo dục.

Ông cũng đề xuất cải cách hệ thống giáo dục toàn diện trên khắp tiểu bang Virginia. Từ năm 1814, Jefferson đã vận động thành lập một trường Đại học thật sự đầu tiên của nước Mỹ, đó chính là trường Đại học Tổng hợp Virginia. Với ông, trường Đại học này không chỉ đào tạo ra các giáo sư và các nhà khoa học mà còn phải tạo ra các nhà lãnh đạo tương lai của đất nước. Ông muốn thiết lập một hệ thống để đảm bảo rằng những tài năng sẽ có cơ hội thể hiện và được xã hội phát hiện… Và giáo dục phổ thông là yếu tố sàng lọc cần thiết loại bỏ những thứ vô giá trị của tầng lớp đặc quyền, thúc đẩy giới tinh hoa của đất nước nổi lên.

Trong suốt sáu năm làm Hiệu trưởng của trường, Jefferson hoàn toàn dành mọi công sức để xây dựng nên “trường Đại học thật sự đầu tiên của nước Mỹ”. Ông vận động quyên góp tiền, phác thảo bản vẽ kiến trúc trường, thuê người xây dựng, cẩn thận chọn lựa đội ngũ giáo viên, phát triển chương trình dạy học, đề ra nội qui của trường và nhiều cải tiến khác: thiết lập các môn học không bắt buộc, cắt bỏ sự ràng buộc giữa nhà trường và nhà thờ, chuyển chương trình học kinh điển sang các môn khoa học thực tiễn, nới lỏng kỷ luật của trường, phát triển các ngành mới. Ông muốn tạo ra một môi trường tự do và tiến bộ cho các giáo sư và sinh viên cùng nhau nghiên cứu và tìm tòi kiến thức.

Việc chọn lựa các môn học của ông cũng được cân nhắc kỹ càng. Ông cho rằng, để tạo ra những con người yêu nước tất yếu việc giáo dục phải bao gồm lịch sử và luật pháp vì theo ông trong khi khoa học là “mũi giáo”, là công cụ phát hiện thế giới bên ngoài thì lịch sử là “tấm áo giáp” chống lại sự chuyên chế, đồng thời sẽ mang lại cho con người tầm nhìn xa, trông rộng và sự điềm tĩnh, phát hiện mọi tham vọng xấu xa. Việc hiểu biết lịch sử sẽ là rất cần thiết để duy trì nền cộng hoà còn việc học luật pháp là nhằm xây dựng trật tự cho các hoạt động của xã hội. Không chỉ dừng lại đấy, Jefferson còn thành công trong việc truyền tải tư tưởng về một nền giáo dục tự do và rộng khắp vào Thư viện Quốc hội Mỹ, biến nơi đây thành một nơi lưu trữ và bảo tồn lớn nhất mọi dạng tri thức của nhân loại và dễ tiếp cận cho mọi người dân…

James Madison (1751-1836)

Là một người cực kỳ thông minh và, ngay từ khi là sinh viên trường Princeton năm 1771, James Madison đã đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực chính quyền và luật pháp. Năm 1775 khi mới 24 tuổi, Madison tham gia Ủy ban cách mạng của quận Orange; 25 tuổi, tham dự Hội nghị soạn thảo bản Hiến pháp cho tiểu bang Virginia. Trong những năm 1776-1777, ông tham gia Viện dân biểu thị xã, sau đó, tham gia Hội đồng Hành pháp tiểu bang. 30 tuổi, Madison đại diện cho tiểu bang Virginia tại Quốc hội Hợp bang. Mặc dù là đại biểu trẻ nhất, nhưng ông đã đóng một vai trò rất quan trọng trong các cuộc tranh luận. Ông là người chỉ đạo ngầm đằng sau các cuộc họp ở Hội nghị Mount Vernon (1785), rồi tham gia Hội nghị Annapolis tiền đề cho Hội nghị Lập hiến (1786) và là người có nỗ lực lớn nhất vận động tổ chức Hội nghị Lập hiến.

Madison được mệnh danh là “Cha đẻ của Hiến pháp Mỹ” vì sự đóng góp lớn lao trong việc soạn thảo văn kiện này cũng như trong quá trình thông qua Hiến pháp. Là một trong những lãnh tụ của Hạ viện Mỹ (1789-1797), Madison đóng góp chính vào Tuyên ngôn nhân quyền. Năm 1792, ông và Jefferson đã thành lập Ðảng Cộng hòa – Dân chủ để chống đối các chính sách tài chính – kinh tế của Hamilton và Đảng Liên bang.

Ông cũng có công lớn soạn Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill Of Rights) bảo vệ quyền tự do của con người và cùng Thomas Jefferson sáng lập đảng Dân chủ Mỹ. Ông cũng trở thành Tổng thống thứ 4 của Mỹ. Trên cương vị này, ông có điều kiện và tư cách để thực thi những chính sách và chính bản hiến pháp mà ông góp phần soạn nên…

__

Alexander Hamilton

Alexander Hamilton (1757–1804) là luật sư, chính trị gia, chuyên gia tài chính người Mỹ. Ông là Bộ trưởng Ngân khố đầu tiên của Hoa Kỳ, người đã thiết lập hệ thống tài chính – ngân hàng, đặt nền móng cho nền kinh tế Mỹ, khi trở thành Bộ trưởng Ngân khố ông mới 32 tuổi.

Ông đặc biệt quan tâm đến việc củng cố chính quyền trung ương, nên vào năm 1786, đại diện cho tiểu bang New York tại Hội nghị Annapolis. Tại đây, ông cùng Madison thúc giục Quốc hội Hợp bang triệu tập Hội nghị Lập hiến nhằm soạn thảo mô hình chính quyền mới cho liên bang. Năm 1787, Hamilton tham dự Hội nghị Lập hiến tham gia Ủy ban soạn và có đóng góp rất lớn.

Ông là tác giả chính của tác phẩm The Federalist Papers (Người liên bang) viết chung với James Madison. Những tư tưởng lớn lao chứa đựng trong đó đã đưa tác phẩm này sánh ngang với những danh tác chính trị của nhân loại, làm nền tảng, giải thích rõ ràng về ý nghĩa và mục đích của Hiến pháp Hoa Kỳ.

Năm 1789, Washington đã bổ nhiệm Hamilton giữ chức Bộ trưởng Tài chính, bộ quan trọng nhất trong giai đoạn đầu dựng nước. Được coi là kiến trúc sư của nền tài chính, kinh tế, và cả chính trị ngoại giao Mỹ thời kỳ lập quốc, ông đã xây dựng nền tảng cho một nhà nước hùng mạnh. Ông đã thành lập Ngân hàng Đệ nhất Hoa Kỳ, để tài trợ cho các khoản nợ của liên bang; đảm trách các khoản nợ của các tiểu bang và khuyến khích sản xuất, phát triển quan hệ thương mại với nước Anh. Hamilton tham gia sáng lập Ðảng Liên bang, tiền thân của đảng Cộng hòa sau này để đối trọng lại Jefferson, Madison và Ðảng Cộng hòa – Dân chủ.

___

Thomas Jefferson

Thomas Jefferson (1743–1826) là tổng thống thứ ba của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, người sáng lập ra Đảng Dân chủ–Cộng hòa Hoa Kỳ và là một trong những người theo chủ nghĩa tự do nhiệt thành lớn nhất thời cận đại. Ông sinh ngày 13 tháng 4 năm 1743 tại Shadwell, bang Virginia, lúc đó còn là vùng biên giới hoang vu, trong một gia đình kĩ sư gốc Anh. Thuở nhỏ, ông học ở quê nhà, rồi sau đó vào trường Đại học William & Mary (1760–1762). Năm 23 tuổi, ông trở thành luật sư. Bảy năm sau, ông thôi hành nghề với một tài sản kha khá và với mối ác cảm sâu sắc về giới luật sư, rồi sống cuộc sống của một nhà quý tộc nông thôn độc lập.

Trên mộ bia được ông chọn từ trước, có mang dòng chữ: “Đây là nơi an nghỉ cuối cùng của Thomas Jefferson, tác giả của bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, của Đạo luật Virginia về tự do tín ngưỡng, và là cha đẻ của trường Đại học Virginia”.

___

(*) Giám đốc Alpha Books

Xem thêm: Mỹ mạnh nhờ giáo dục gắn với thực tế và khai sáng

Advertisements
Posted in: Chính trị