Đại học Việt Nam: Điều gì đang diễn ra?

Posted on Tháng Mười 24, 2011 bởi

3



Định Tường
TCPT số 50

Hàng năm, học sinh ở Việt Nam sau khi trãi qua kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông với 6 môn, họ sẽ tiếp tục “đương đầu” với kỳ thi tuyển sinh đại học được tổ chức trên quy mô cả nước với đề thống nhất do Bộ Giáo dục và Đào tạo ấn định. Kỳ thi tuyển sinh năm nay (2011) không có thay đổi lớn nhưng lại được báo chí trong nước tốn không ít giấy mực. Trong đó, một số hiện tượng tiêu biểu được cho là “bất thường” như sự mất cân đối quá lớn giữa các khối ngành, nhất là những ngành thuộc khoa học xã hội, nông nghiệp… Hiện tượng đáng chú ý khác là hàng loạt các trường phải đóng cửa ngành học do sinh viên trúng tuyển quá ít, trong khi tổng số hồ sơ đăng ký dự tuyển là 1,5 triệu nhưng hơn nửa triệu thí sinh đã phải từ bỏ “cuộc đua” để tìm một chốn giảng đường đại học sau khi Bộ Giáo dục ấn định “điểm sàn”. Vậy điều gì đang thực sự diễn ra?

“Lạm phát” Đại học

Từ khi có quy chế đại học tư thục, hàng loạt đại học ngoài công lập mọc lên như nấm sau cơn mưa – nói theo kinh tế học có thể ví von như “lạm phát” hiện nay – đó là “lạm phát” đại học. Theo thống kê, từ năm 1998 đến 2009 cả nước đã có 307 trường đại học, cao đẳng mới được thành lập hoặc nâng cấp (từ cao đẳng lên đại học, từ trung cấp lên cao đẳng). Như vậy, bình quân trong vòng 1 tháng có 2 trường đại học, cao đẳng mới được thành lập. Cá biệt là năm 2009 khi chỉ trong tháng 8 có đến 5 trường mới ra đời. Con số này chưa tính các trường thuộc quân đội, công an hay các trường, khoa trực thuộc, phân hiệu, phân viện. Tính đến hết năm 2009, cả nước nước có 409 trường đại học, cao đẳng, và theo báo cáo mới nhất năm 2011, con số này đã lên tới 414 trường.

Nhiều hoài nghi về tốc độ tăng chóng mặt của các trường đại học, cao đẳng trong thời gian ngắn có tỷ lệ thuận với tăng chất lượng đào tạo hay không? Và liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo với vai trò là “Bộ chủ quản” của phần lớn các trường đại học, cao đẳng trên cả nước có thực sự nắm rõ tình hình hoạt động và phát hiện sai phạm (nếu có) để xử lý? Với con số 414 trường, cứ bình quân mỗi tuần Bộ Giá dục và Đào tạo thanh tra một trường, thì phải mất hơn 8 năm rưỡi mới thanh tra hết số trường ấy. Tuy nhiên việc thanh tra, kiểm tra toàn diện với quy mô lớn như thế chưa từng được khởi động trong khi số lượng trường cứ tăng đều đặn qua các năm.

Ngành học mất cân đối, chất lượng bỏ ngõ

Theo thống kê kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2011, cả nước có 1.5 triệu hồ sơ dự thi. Số lượng hồ sơ khối A (Toán-Lý-Hóa) vẫn “áp đảo” là 55.2%, đứng thứ nhì là khối B (Toán-Lý-Hóa) 19,4%, kế đến là khối D (Toán-Văn-Ngoại ngữ) và gần chót bảng là khối C (Văn-Sử-Địa) vốn là khối thi của các ngành khoa học xã hội, nhân văn. Hồ sơ dự thi đăng ký tập trung vào các ngành được xem là “hot” tại Việt Nam như khối ngành kinh tế, công nghệ thông tin, kỹ thuật… Trong khi đó, những ngành có một thời “vàng son” như sư phạm, nông nghiệp thì ngày càng thưa vắng thí sinh. Tình trạng vừa nêu đã dẫn đến hàng loạt các trường có đạo tạo ngành này phải đóng cửa vì thiếu sinh viên. Sự mất cân đối sinh viên giữa các ngành học đã dẫn tới nhiều hệ lụy cho xã hội và ngay chính bản thân người học. Theo thống kê, tại TP.HCM có đến 60% doanh nghiệp không hài lòng về chất lượng sinh viên tốt nghiệp từ đại học và cao đẳng; trong khi đó có tới 50% sinh viên tốt nghiệp phải làm việc trái với ngành nghề đã học.

Xếp hạng độ phổ biến (không dựa theo chất lượng) các trường đại học ở Việt Nam so với các trường trên thế giới do Ranking Web of Universities (webometrics.info) công bố vào tháng 7/2011.*

Những thực tế trên là hậu quả của công việc tư vấn, hướng hiệp còn quá yếu kém, vì hầu hết người học hiện nay luôn muốn học những ngành có lương cao, được xem là “hot” mà không quan tâm nhiều tới sở thích hay khả năng. Bênh cạnh đó, chất lượng đầu ra của sinh viên vẫn còn là một dấu hỏi lớn khi mà nhiều trường đại học, cao đẳng có tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi lên tới hơn 90% mỗi khóa, trong khi dự hài lòng của doanh nghiệp với những sinh viên này như nêu ở trên chỉ đạt 60%. Điều này cho thấy rõ ràng việc đào tạo sinh viên vẫn chưa gắn với nhu cầu của các doanh nghiệp trong nước. Đó là chưa kể đa phần sinh viên sau khi được tuyển dụng phải qua một giai đoạn đào tạo lại để đáp ứng nhu cầu công việc.

Mặt khác, với tâm lý coi trọng bằng cấp, chạy theo thành tích mà đa số học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông đều muốn có tấm bằng đại học. Hậu quả của tình trạng này là một xã hội thừa “thầy”, thiếu “thợ” lành nghề. Lợi dụng tâm lý hám danh mà nhiều trường chèo kéo sinh viên với những chiêu như tặng “học bổng”, giảm điểm trúng tuyển…trong khi chất lượng thì bỏ ngõ. Tại Việt Nam vẫn chưa xây dựng các chuẩn mực hay có bất kỳ một tổ chức nào đánh giá, kiểm định các đại học. Xã hội Việt Nam ngày càng thiếu tin tưởng vào chất lượng mà giáo dục đại học hiện đang và sẽ đào tạo ra.

Bỏ hình, bắt bóng

Trong khi giáo dục đại học ở một nước luôn tự hào với truyền thống hiếu học đang lâm vào tình trạng hỗn loạn nếu không muốn nói là khủng hoảng, thậm chí là “lạc đường” theo giáo sư Hoàng Tụy, thì Bộ Giáo dục và Đào tạo lại có chủ trương trong vòng 15 năm tới, Việt Nam sẽ có 5 trường đại học có tên trong top 500 đại học hàng đầu thế giới. Chủ trương này đã được khởi động bằng việc vay 400 triệu USD từ Ngân hàng thế giới và ADB nhằm đầu tư xây dựng 4 đại học. Nhưng thực tế những trường này, tiêu biểu là Đại học Việt – Đức, giảng dạy theo chương trình của Đức với số lượng sinh viên cực kỳ khiêm tốn. Thực tế này lại phản ánh cái gọi là “chương trình khung” mà Bộ áp dụng cho hàng trăm trường đại học, cao đẳng trên cả nước đã quá lỗi thời. Và liệu cái gọi là đại học Việt Nam có ý nghĩa gì khi chỉ là vỏ ngoài còn “ruột” là của nước khác! Chẳng ai xây nhà từ nóc, bỏ hình bắt bóng như nền giáo dục của nước ta hiện nay!

Chưa ai biết liệu cuộc chạy đua háo danh “500 đại học hàng đầu thế giới” sẽ đi tới đâu, trong khi đại học Việt Nam vẫn còn ngổn ngang bao nhiêu thứ tiêu cực ở mức báo động và trầm trọng. Và trong khi Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn luôn hô hào cuộc vận động “nói không với bệnh thành tích” thì xem ra, bệnh thành tích trong nền giáo dục tại Việt Nam không chỉ là tâm lý của học sinh mà còn ở cấp độ cao hơn, vĩ mô, trong tư duy của lãnh đạo từ trên xuống!

Đ.T.
Mỹ Tho 15.10.2011
Viết riêng cho Phía Trước

___

* Bảng xếp hạng đại học của Webometric  chỉ xếp hạng độ phổ biến các trang web của các trường đại học trên thế giới và không xếp hạng dựa theo chất lượng. Hiện nay trong các bảng xếp hạng chất lượng đại học tên tuổi như Times Higher Education (THE – http://www.timeshighereducation.co.uk), QS Top Universities (http://www.topuniversities.com), … đều không có tên trường nào của Việt Nam.

TCPT50 – Marx – Những gì còn lại…
Download TCPT50 – Bản in (15MB)
Download TCPT50 – Bản thường (6.5MB)
Download TCPT50 – Bản mini (4MB)

Advertisements