Khảo sát tiến trình lịch sử triết học phương Tây từ sau Phục hưng tới các học thuyết dân chủ

Posted on Tháng Mười 26, 2011 bởi

3



Ngọc Cầm
TCPT số 50

Sự kiện văn hóa và lịch sử rất phức tạp có tên thời kỳ Phục hưng bắt đầu ở miền Bắc nước Ý vào thế kỷ 14 và lan truyền khắp Tây Âu trong suốt hai thế kỷ tiếp theo. Xã hội phong kiến đang chết dần, các thành thị trở nên quan trọng hơn và những thành viên của một giai cấp thương nghiệp hiện đại khích lệ những tư tưởng mới trong toán học, khoa học, và công nghệ. Một sự thay đổi lớn lao khác – phong trào Cải cách tôn giáo – cho phép những triết gia sống trong các quốc gia theo Tin lành đặt ra những câu hỏi triệt để hơn về khoa học, chính trị và luân lý. Chủ nghĩa Nhân văn thời Phục Hưng có nghĩa là các triết gia có thể suy tưởng về những thành tựu và những ý tưởng của con người, ít tập trung hơn vào sự hiện hữu và bản chất của Thượng đế.

Eramus và Aristotle

Một triết gia âm thầm hỗ trợ việc khởi động phong trào Cải cách Tin lành là Eramus (1466 -1536) với tác phẩm Tụng ca điên rồ, đã hiên ngang phê phán sự lạm dụng của giáo hội Công giáo. Ông không coi trọng ai cả, càng không coi trọng mọi triết gia. Giống như các nhà hoài nghi trước ông, Eramus cũng cho rằng sự minh triết của con người là chuyện ảo tưởng và không bao giờ đạt đến được.

Bên cạnh đó là sự phát triển của các nhà lý thuyết chính trị. Aristotle đã thống trị hầu hết thần học, triết học, khoa học và bắt đầu phát hiện ra rằng Aristotle cũng thường mắc sai lầm khá ngoạn mục. Mặt trời không hề quay quanh Trái đất như ông nhìn nhận. Aristotle còn khẳng định rằng mục tiêu của mọi hoạt động chính trị là để tạo ra những công dân ngay thẳng về mặt luân lý nhưng hai nhà triết học chính trị thời Phục hưng cho thấy ông cũng nhầm cả lĩnh vực này.

Niccolo Machiavelli và Thomas Hobbes

Niccolo Machiavelli (1469-1527) quan sát cách hành xử tàn nhẫn của nhà cầm quyền Italy thời Phục hưng và kết luận trong tác phẩm Quân vương rằng luân lý và chính trị không hòa trộn với nhau được. Ông đã xác lập các nguyên tắc của một xã hội dân sự thế thục và hiện đại.

Lý thuyết này được bổ sung bởi Lý thuyết Khế ước xã hội của Thomas Hobbes (1588-1679). Hobbes tin rằng xã hội cần một khế ước để đảm bảo an toàn cho các cá nhân. Nhưng một khế ước giữa những cá nhân chủ nghĩa tàn bạo thường nhất thiết phải được tăng cường bằng một khế ước được gọi là Khế ước Nhà nước cho phép chính quyền trừng phạt những ai vi phạm Khế ước xã hội. Ông khẳng định: “Nhà nước có chủ quyền là điều kiện cho việc bảo tồn mạng sống con người và các giá trị văn minh. Luân lý không gì khác hơn là một thỏa thuận đầy hoài nghi giữa những tên côn đồ.”

Francis Bacon và Rene Descartes

Từ sự phát triển của khoa học mà mở đầu là Triết lý Khoa học của Francis Bacon (1561-1626) với tuyên bố: “Tri thức là Sức mạnh”, đã mở ra thời kỳ Triết học Hiện đại mà đại diện đầu tiên chính là Rene Descartes (1596 – 1650). Descartes là nhà toán học người Pháp kiên quyết dựa vào sự tự trị của cá nhân và không chịu chấp nhận những lời giải triết học mang tính chính thống lúc bấy giờ. Ông nghiên cứu sự vận hành bên trong của đầu óc trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài và nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa tri giác và suy tưởng. Phương pháp “hoài nghi có hệ thống” của ông có tính nội quan và tự truyện nhưng cũng hết sức khách quan và logic. Trong Các suy niệm siêu hình học của mình, ông đặt ra câu hỏi: có chăng một loại tri thức có thể nhận biết được một cách chắc chắn?

René Descartes (1596 – 1650)

Bằng cách áp dụng một kỹ thuật hoài nghi khoa học triệt để, ông nhận ra rằng mình có thể phá hủy niềm tin của mình về mọi thứ. Hoài nghi kiểu Descartes là tích lũy và tàn nhẫn. Nghi ngờ là một loại tư duy nên cố nghi ngờ rằng ta đang tư duy là điều không ổn. Với sự thức nhận ấy, Descartes tiến tới chứng minh rằng con người là thực thể nhị nguyên kỳ lạ. Thuyết hoài nghi của Descartes là một loại trò chơi triết học được ông dùng để xác lập đâu là những loại nhận thức chắc chắn. Triết học Descartes đã mang lại lòng kính trọng mới mẻ đối với tín điều rằng nhận thức đích thực chỉ có thể rút ra từ lý tính với câu nói nổi tiếng: “Tôi tư duy nghĩa là tôi tồn tại”. Điều này kích hoạt một cuộc tranh biện triết học kéo dài suốt hai thế kỷ sau đó và còn dài hơn thế nữa. Sau Descartes, các triết gia như B.Spinoza(1631-1677) với Thuyết Nhất Nguyên, G.WLeibniz (1646-1767) với Đơn tử luận… đã nối tiếp và phát triển rực rỡ, mở đường cho Phong trào Khai sáng.

Voltaire

Voltaire (1694-1778) là tên tuổi cự phách của phong trào Khai sáng – một kỷ nguyên của trào lưu cấp tiến xã hội và niềm tin mới mẻ vào sức mạnh lý tính trước giáo điều, mê tín và chuyên chế. Cùng với nhà Bách khoa uyên bác như D.Diderot (1713 -1784) và các nhà triết gia khác của Pháp, Voltaire đã làm cho mọi người biến đến các nhà tiên phong của thuyết duy nghiệm người Anh như Bacon, Newton và Locke; Thuyết duy tâm của Giám mục Berkeley (1685 – 1753) và Hume (1711-1776) với Thuyết hoài nghi thường niệm.

Jean Jacques Rousseau

Một triết gia có công đặc biệt với Phong trào Khai sáng là Jean Jacques Rousseau (1712-1778). Ông là một nhà tư tưởng chính trị bác bỏ học thuyết của Hobbes về tính bác bẩm sinh của con người. Ông nhận định rằng: “Cuộc sống của những người tự nhiên tiền văn minh là cuộc sống an vui và nhân ái nhưng khi những phát minh lớn của con người về nền văn minh và tư hữu xuất hiện, tất cả đều tuột dốc”. Chính huyền thoại “trở về với Tự nhiên” đã ảnh hưởng tới Phong trào văn hóa có tên là “Trào lưu lãng mạn”.

Rousseau tin rằng luật lệ của xã hội phải là một sự diễn đạt của “Ý chí chung” vốn lúc nào cũng đúng đắn. Ý chí chung này được xác lập như thế nào và khi nào thì nó phải được củng cố là những điều không rõ ràng. Thật không may các hoàn cảnh Cách mạng luôn lật đổ những kẻ duy tâm và cơ hội tàn nhẫn, rồi sẵn sàng tuyên bố rằng chính mình là hiện thân trực tiếp của cái thực thể trừu tượng kia, rồi tiếp tục áp đặt cái thực thể ấy lên những người khác một cách đầy bạo lực.

G.W. Friedrich Hegel

Trước đây, các triết gia vẫn cho rằng Aristotle đã khám phá ra logic học và quả đúng như thế. “Nhưng có một logic học khác! Nhận thức có một lịch sử mang tính tiến hóa được nên nên từ những khái niệm chứ không phải từ những mệnh đề sự kiện đúng hay sai một cách cô lập”. Đó là nhận định của G.W. Friedrich Hegel (1770-1831) với Phép biện chứng nổi tiếng. Những ý niệm lớn lên và vận động từng bước tiến tới một sự nắm bắt tốt hơn về thực tại trong một tiến trình được nhà triết gia này gọi là Phép biện chứng: “Khái niệm mới, đến lượt nó lại sản sinh phản đề của chính mình, và như thế, tiến trình sẽ tiếp tục một cách không khoan nhượng cho tới khi rút cục đạt tới ý niệm tuyệt đối”. Đó là một sự tổng kết mang tính tiến hóa và tôn giáo về tinh thần và văn minh của con người: cả hai kinh qua nhiều cấp độ cho tới khi đạt được “ý thức tuyệt đối” và sự hài hòa xã hội.

Arthur Schopenhauer

Một triết gia Đức thù địch với phương pháp của học thuyết của Hegel là Arthur Schopenhauer (1788 -1860). Ông cho rằng lòng tin của Hegel về một sự kết thúc có hậu cho lịch sử nhân loại là trò ba hoa nhảm nhí của một “tay ngang ngu xuẩn và vụng về”. Ông đồng ý với Kant rằng con người chỉ có thể sống trong thế giới hiện tượng nhưng với Schopenhauer, thế giới hiện tượng là một thế giới mộng ảo luôn bị “ý muốn” kiểm soát. Ý muốn điều khiển mọi sinh vật, kể cả con người.

Schopenhauer có thể coi là triết gia phương Tây đầu tiên ảnh hưởng của Phật giáo với các luận điểm sau: “Hoàn toàn là một sự vô mục đích, một loại sức đẩy buộc mọi sinh vật ăn nằm với nhau, sinh con đẻ cái và chết đi. Con đường duy nhất để thoát khỏi guồng cối xay ấy là hãy diệt bỏ đi ý muốn”. Con người thích tin rằng đời sống cá nhân của chính mình có một loại ý nghĩa cao hơn nào đấy nhưng thực ra chẳng có gì trong cuộc đời họ ngoài sự thôi thúc phải thỏa mãn những dục vọng mới. Những ý chí hay dục vọng cá nhân khác nhau không tránh khỏi đi tới xung đột và đó là lý do tạo ra khổ đau của con người. Một phương cách là hãy dấn thân vào những hoạt động chiêm nghiệm hay nghệ thuật. Những tư tưởng của ông đã ảnh hưởng lớn đến các vĩ nhân như nhà soạn nhạc Richard Wagner (1813-1883) và triết gia Đức Nietzsche (1844-1900) – kẻ chống Chúa.

Friedrich Nietzche

Friedrich Nietzche tuy lớn lên như một người theo phái Luther thuần thành giống như nhiều triết gia Đức khác lại trở nên thù địch với Kito giáo và hoàn toàn bác bỏ những niềm tin vào bất kỳ thế giới “siêu việt” hay “tự thân” nào. Ông đã tuyên bố: “Thượng đế đã chết và chính chúng ta đã giết ngài”.

Giống như hầu hết các triết gia tiền bối, ông ra sức định nghĩa lại bản tính con người. Ông cho rằng khái quát hóa về bản tính của con người là sai lầm vì nó quy giảm con người thành một bản tính chung đầy xuyên tạc. Ông tiên tri rằng chủ nghĩa tư bản hiện và sự tiến bộ công nghệ sẽ chỉ tạo ra một thế giới tư sản của “những con người mạt hầu” tầm thường, xoàng xĩnh”.

Ludwig Feuerbach

Hơn 80 năm trời, triết học Đức kiên trì cho rằng thế giới được cấu tạo bằng những tư tưởng do họ không nhất trí với nhau về bản tính của những tư tưởng này và về nhận thức của con người đối với chúng, nhưng từ Ludwig Feuerbach (1804-1872), duy tâm đã chuyển sang duy vật.

Ông cho rằng: “Ta phóng chiếu mọi sự hoàn hảo chưa thực hiện được cảu chính ta thành một thực tế tưởng tượng, không mang tính con người, tức Thượng Đế, thay vì quan tâm đến việc cải thiện có thể thực hiện được ở những con người đồng loại của ta”. Về sau, ông chuyển từ sự phê phán theo kiểu “Hegel cánh tả” về ảo tưởng tôn giáo sang thuyết duy vật cấp tiến. Ông bảo: “Tôi ăn, vây tôi tồn tại”, có nghĩa là nhu cầu vật chất là cái thứ nhất, tư tưởng là cái thứ hai. Cuộc hôn phối giữa thuyết biện chứng của Hegel và thuyết duy vật của Feuerbach đã mở đường cho chủ nghĩa Marx.

Karl Marx

Karl Marx (1813-1883) khởi đầu như một nhà “Hegel cánh tả” trẻ tuổi nhưng lại phát triển một mô hình duy vật biện chứng mới mẻ về lịch sử. Triết học của ông là sự pha trộn của thuyết duy tâm Đức, kinh tế chính trị học Anh và Chủ nghĩa Xã hội Pháp. Với Marx, lịch sử là một câu chuyện về một cuộc đấu tranh biện chứng thường xuyên nhưng không phải giữa những tư tưởng trừu tượng của Hegel mà là giữa mọi giai cấp và lực lượng kinh tế đều hết sức hiện thực. Cuộc chiến đấu biện chứng này tất yếu kết thúc bằng một cuộc Cách mạng của công nhân quốc tế, biến đổi xã hội và lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, thực tế chứng minh rằng cuộc Cách mạng này không hoàn toàn và lịch sử nhân loại vẫn cứ tiếp tục biện chứng.

Jeremy Bentham và John Stuart Mill

Cùng thời gian với Marx, ở Anh, một loại triết học vô thần và duy vật khác đã nảy mầm được gọi là Thuyết Ích dụng hay Thuyết Công lợi do Jeremy Bentham (1748 -1832) sang lập và sau đó được John Stuart Mill (1806 -1873) cải tiến. Khác với Marx, hai triết gia người Anh này cho rằng không có sai lầm tự thân nào trong chủ nghĩa tư bản, bởi chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi.

Bentham cho rằng: “Hệ thống pháp luật của nước Anh được xây dựng trên một mớ bòng bong phản khoa học cảu tiên kiến lịch sử và sự mê tín tôn giáo. Đó là sự nhảm nhí đi cà kheo. Do đó, nhiệm vụ của bất kỳ chính quyền nào được bầu lên là phải đảm bảo sự hạnh phúc lớn nhất cho số đông người nhất.”

Vì thế, triết học chính trị phải tìm cách gia tăng sự vui sướng và giảm thiểu đau khổ. Triết học đó phải dân chủ. J.S.Mill đã cố điều chỉnh lại học thuyết của Bentham. Ông lo rằng học thuyết này sẽ dẫn tới “sự độc tài của đa số”. Trong quyển Bàn về tự do, ông biện hộ cho một sự bao dung đối với những ý kiến và lối sống của thiểu số, miễn chúng không làm tổn hại đến những người khác. “Một xã hội đa nguyên là một xã hội lành mạnh, một phần bởi vì nó mang lại một vũ đài trong đống chân lý rút cục sẽ chiến thắng sai lầm. Luân lý cần cái gì nhiều hơn là sự thống trị của đa số”.

Tư tưởng dân chủ của Anh đặc biệt phát triển ở Mỹ với các nhà chính trị như Thomas Jefferson (1743-1826) và Benjamin Franklin (1706-1790), và ở Mỹ đã hình thành một nước Cộng hòa dân chủ. Tại Mỹ, rất nhiều tư tưởng mâu thuẫn nhau đã cùng tồn tại.

John Dewey

Một nhà dân chủ nổi tiếng khác của Mỹ là John Dewey (1859-1952). Ông đã có những tư tưởng mới mẻ về xây dựng ý thức dân chủ cho con người từ thuở thiếu thời: “Tôi đề nghị những nhà giáo dục không nên tiếp tục quan niệm trẻ em như là những bình đựng trống rỗng, thu động để ta tha hồ nhồi nhét đầy thông tin vào đó. Trái lại phải xem trẻ em như là những người giải quyết vấn đề có tinh thần độc lập suy nghĩ cần được thử thách không ngừng.”

Hiện có ít nhất là 10.000 triết gia hàn lâm và chuyên nghiệp ở Hoa Kỳ. Họ vẫn cứ quan niệm triết học như một hoạt động thực tiễn bàn về những vấn đề của ý thức và vô số thứ khác: trí thông minh nhân thọ, y đức, nhân quyền, toán học, thuyết tương đối, logic học… Với tiến trình phát triển mạnh mẽ của triết học sau Phục hưng cho tới cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, xã hội nhân loại thực sự đã thay đổi đến chóng mặt. Và vẫn tiếp tục tiến trình ấy, các học thuyết Hậu hiện đại đã và đang được xây dựng để hoàn thiện dần tri thức nhân loại.

N.C.
© 2011 TCPT số 50

(Còn tiếp: Phần 2 – Chủ Nghĩa Hậu hiện đại)

TCPT50 – Marx – Những gì còn lại…
Download TCPT50 – Bản in (15MB)
Download TCPT50 – Bản thường (6.5MB)
Download TCPT50 – Bản mini (4MB)

Advertisements
Posted in: Chính trị