Chủ nghĩa Mác

Posted on Tháng Mười 28, 2011 bởi

1



David L. Prychitko
Nguyên Ân biên dịch
TCPT số 50

Hơn một thế kỷ sau cái chết của Karl Marx, ông vẫn được xem như là một trong những nhân vật gây tranh cãi nhiều nhất trong thế giới phương Tây. Marx không ngừng chỉ trích chủ nghĩa tư bản và hứa hẹn một xã hội chủ nghĩa hài hòa trong tương lai là không thể tránh khỏi, và sẽ là nguồn cảm hứng dẫn tới các cuộc cách mạng mang tính quy mô ở toàn cầu. Và dường như – với cuộc cách mạng Bolshevik ở Nga và sự lây lan của chủ nghĩa cộng sản trên khắp Đông Âu – thì giấc mơ chủ nghĩa Mác đã bắt rễ vững chắc trong nửa đầu của thế kỷ XX.

Giấc mơ ấy đã sụp đổ trước khi thế kỷ XX chấm dứt. Người dân Ba Lan, Hungary, Tiệp Khắc, Đông Đức, Rumani, Nam Tư, Bulgaria, Albania, và Liên Xô đã bác bỏ ý thức hệ Mác-xít và bước vào quá trình chuyển đổi đáng kể đối với quyền sở hữu tư nhân và hệ thống kinh tế thị trường, mà cho đến ngày nay hệ thống này vẫn tiếp tục hoạt động mạnh mẽ. Khía cạnh nào của chủ nghĩa Mác đã tạo ra một lực lượng cách mạng mạnh mẽ như thế? Và phải giải thích như thế nào về sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác? Những câu trả lời lại nằm trong một số đặc điểm chung của chủ nghĩa Mác – kinh tế, lý thuyết xã hội, và tầm nhìn tổng thể.

Lý thuyết về giá trị lao động

Lý thuyết về giá trị lao động là một trụ cột chính trong nền kinh tế truyền thống của Marx, nó đã được thể hiện qua kiệt tác Capital (1867). Yêu cầu cơ bản của lý thuyết rất đơn giản: giá trị của một loại hàng hóa có thể được đo lường một cách khách quan bằng số lượng giờ lao động trung bình cần thiết để sản xuất rằng mặt hàng đó.

Ví dụ, nếu một đôi giày phải mất gấp đôi thời gian để sản xuất so với một cái quần thì đôi giày đó mang giá trị gấp hai lần so với cái quần. Về lâu dài, giá cả cạnh tranh của đôi giày sẽ mắc gấp hai lần giá của cái quần, bất kể giá trị của các yếu tố vật chất như thế nào.

Mặc dù lý thuyết về giá trị lao động đã được chứng minh là sai lầm, nhưng nó vẫn chiếm ưu thế trong số các nhà kinh tế cổ điển trong thời gian giữa thế kỷ 19. Ví dụ, Adam Smith đã ve vãn với lý thuyết về giá trị lao động trong các bài viết cổ điển bảo vệ chủ nghĩa tư bản, The Wealth of Nations [tạm dịch Sự giàu có của các quốc gia] (xuất bản năm 1776), và sau đó là David Ricardo đã hệ thống hóa lý thuyết trên qua tác phẩm Principles of Political Economy [tạm dịch Các nguyên tắc của kinh tế chính trị] (xuất bản năm 1817), một văn bản mà nhiều thế hệ đã sử dụng để nghiên cứu nền kinh tế thị trường tự do.

Vì vậy, các lý thuyết về giá trị lao động không phải là điều duy nhất đối với chủ nghĩa Mác. Tuy nhiên, Marx đã cố gắng biến các lý thuyết ấy nhằm chống lại các lý thuyết về chủ nghĩa tư bản, thậm chí còn đẩy nó theo hướng để làm cho hầu hết các nhà kinh tế học cổ điển phải phân vân, lưỡng lự không biết phải làm thế nào. Marx lập luận rằng lý thuyết đó có thể giải thích các giá trị của tất cả mặt hàng, bao gồm cả hàng hóa mà công nhân bán cho nhà đầu tư để đổi lại số lương bổng. Marx gọi ấy là “sức lao động” hàng hóa.

Quyền lực lao động là khả năng của các công nhân trong việc sản xuất ra hàng hóa và các dịch vụ. Bằng cách sử dụng các nguyên tắc về kinh tế học cổ điển, Marx giải thích rằng giá trị của sức lao động phải phụ thuộc vào số giờ lao động mà xã hội cần để nuôi dưỡng, cung cấp thức ăn, quần áo, và nơi trú ẩn để nhân viên có khả năng làm việc. Nói cách khác, các công nhân làm việc dài hạn thường sẽ phụ thuộc vào số giờ lao động cần thiết trong quá trình sản xuất để họ làm việc cho phù hợp. Giả sử mỗi ngày phải mất năm giờ trong số giờ lao động để ăn uống, sắm sửa, và bảo vệ một công nhân để họ có sức làm việc cho buổi sáng hôm sau, và nếu một giờ lao động bằng một đồng đô la, thì mức lương đúng mức của họ sẽ là năm đô la mỗi ngày.

Marx sau đó đã đặt ra một câu hỏi tàn khóc rằng: nếu tất cả các hàng hóa và dịch vụ trong xã hội tư bản chủ nghĩa có xu hướng bán với giá (tiền lương) qua đó phản ánh giá trị thực sự của các mặt hàng (được đo bằng giờ lao động), thì làm thế nào các nhà tư bản hưởng được lợi nhuận ngay cả khi chỉ trong thời gian ngắn hạn? Làm thế nào để các nhà tư bản vắt ra số thặng dư còn lại giữa tổng doanh thu và tổng chi phí?

Đáp án mà Marx giải thích là các nhà tư bản buộc phải được hưởng một số vị trí đặc quyền và mạnh mẽ với tư cách là chủ của những tư liệu sản xuất và do đó có thể tàn nhẫn bóc lột những công nhân khác. Mặc dù các nhà tư bản trả tiền lương xác đáng cho các công nhân của họ, nhưng bằng cách nào đó – Marx đã không giải thích rõ ràng ở đây – rẳng các nhà tư bản buộc các công nhân phải làm việc nhiều giờ hơn để gắng vắt sức lao động của họ. Nếu như các nhà tư bản trả tiền cho mỗi công nhân là năm đô la mỗi ngày, thì có thể nói rằng anh ta yêu cầu công nhân làm việc mười hai giờ mỗi ngày – một ngày làm việc có thể được xem là bình thường trong những năm mà Marx còn sống. Do đó, nếu một giờ lao động bằng một đồng đô la, mà công nhân sản xuất tổng cộng trị giá là mười hai đô la nhưng chỉ được trả năm đô la mỗi ngày. Điểm mấu chốt là: các nhà tư bản bòn rút “giá trị thặng dư” từ những công nhân lao động và tận hưởng số tiền lợi nhuận.

Mặc dù Marx đã cố gắng sử dụng lý thuyết giá trị lao động để chống lại chủ nghĩa tư bản bằng cách khai thác hết khả năng của nó, nhưng ông vô tình đã chứng minh những lô-gic và các giả định cơ bản yếu kém của nó. Marx đã đúng khi ông cho rằng các nhà kinh tế cổ điển không giải thích đầy đủ về lợi nhuận của các nhà tư bản chủ nghĩa. Nhưng Marx cũng đã thất bại. Đến cuối thế kỷ 19, các giới kinh tế gia đã bác bỏ lý thuyết về giá trị lao động. Các kinh tế gia ngày nay tin rằng lợi nhuận không phải do các nhà đầu tư khai thác sức lao động của công nhân. Thay vào đó, họ tin rằng, các nhà đầu tư kinh doanh kiếm lợi nhuận bằng cách đoán trước được sức tiêu thụ hiện tại, bằng cách chấp nhận rủi ro, và bằng cách tổ chức sản xuất hiệu quả.

Sự tha hoá

Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác còn có nhiều ý nghĩa khác nữa so với lý thuyết về giá trị lao động và những lời chỉ trích của Marx về cách tìm kiếm các khoản lợi nhuận. Marx thu dệt nền kinh tế và triết học lại với nhau nhằm xây dựng một lý thuyết lịch sử về con người và thay đổi xã hội. Khái niệm về sự tha hóa của ông, ví dụ, lần đầu tiên đưa ra trong Economic and Philosophic Manuscripts of 1844 [Bản thảo Kinh tế và Triết học năm 1844], đã đóng một vai trò quan trọng liên quan đến những lời chỉ trích về chủ nghĩa tư bản.

Marx tin rằng mọi người, bởi bản chất, là tự do, là những thể chất sáng tạo hoàn toàn có thể biến đổi thế giới. Tuy nhiên, ông quan sát thấy rằng thế giới công nghệ hiện đại phát triển dường như ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Marx đã lên án các thị trường tự do là “hỗn loạn”, hoặc bừa bãi [không có sự thống trị – ungoverned]. Ông cho rằng các nền kinh tế thị trường được điều phối – thông qua việc mua bán tự phát và tài sản tư nhân quyết định bởi luật cung và cầu – đã ngăn chặn khả năng kiểm soát số phận của những cá nhân và tập thể.

Marx đã lên án chủ nghĩa tư bản là một hệ thống xa lánh quần chúng. Lý luận của ông như sau: mặc dù công nhân sản xuất ra các mặt hàng trên thị trường, là lực lượng của thị trường, nhưng công nhân lại không phải là người nắm mọi quyền hành. Mọi người được yêu cầu phải làm việc cho các nhà tư bản có toàn quyền kiểm soát các phương tiện sản xuất và duy trì quyền lực tại nơi mà công nhân làm việc. Việc làm đó, ông nói, trở nên thoái hóa, đơn điệu, và chỉ phù hợp cho các loại máy móc chứ không phải cho những con người sáng tạo và tự do. Cuối cùng, công nhân tự trở thành đối tượng của cơ chế người máy bị mất cảm giác với bản chất con người, đưa ra những quyết định dựa trên sự lạnh nhạt của lợi nhuận, ít quan tâm đến giá trị và những cần thiết của con người. Marx kết luận rằng các khối tư bản đã ngăn chặn khả năng tạo ra một xã hội nhân đạo mà chúng ta đang sống.

Khái niệm về sự tha hóa của Marx dựa trên các giả định quan trọng nhưng hay dao động [không vững chãi]. Ông đưa ra giả định rằng con người có thể thành công xóa bỏ xã hội thị trường tân tiến, và thay vào đó bằng một xã hội hoàn toàn dân chủ theo kế hoạch. Marx tuyên bố rằng chúng ta đang tha hóa không chỉ bởi vì nhiều người trong chúng ta vất vả chùi đầu vào những công việc tẻ nhạt, thậm chí còn có thể làm giảm giá trị, hoặc bởi vì chúng ta cạnh tranh trên thị trường theo xu hướng đặt lợi nhuận trên nhu cầu của con người. Vấn đề ở đây không phải so sánh sự vất vả với hạnh phúc. Chúng ta đang thái hóa, ông biện luận, bởi vì chúng ta chưa thiết kế được một xã hội có đầy đủ kế hoạch và kiểm soát, một xã hội không có sự cạnh tranh, lợi nhuận và thua lỗ, tiền bạc, tài sản tư nhân, và vân vân… – một xã hội mà theo Marx đã dự đoán, là chắc chắn phải xuất hiện khi thế giới tiến lên thông qua lịch sử.

Đây là vấn đề lớn nhất đối với lý thuyết của Marx về sự tha hóa: ngay cả với những phát triển mới nhất trong công nghệ máy tính, chúng ta cũng không thể tạo ra một hệ thống toàn diện theo kế hoạch nhằm chấm dứt những tình trạng khan hiếm và tính bất định. Nhưng đối với những người theo Mác khi nói về sự tha hóa của chủ nghĩa tư bản, thì họ phải đặt giả định rằng một thế giới có kế hoạch chắc chắn sẽ thành công. Marx tin rằng dưới chủ nghĩa tư bản, chúng ta đã “tha hoá” hoặc “tách biệt” những tiềm năng lập kế hoạch mang tính sáng tạo và kiểm soát số phận chung của chúng ta. Nhưng nếu kế hoạch xã hội chủ nghĩa toàn diện thất bại trong thực tế, nếu – và quả thật như vậy, nó là một điều không thể – như chúng ta đã học được từ Mises và Hayek, thì chúng ta không thể nào “tha hóa” theo cách sử dụng thuật ngữ của Marx. Chúng ta không thể nào “tha hóa” từ “tiềm năng” của chúng ta trong một kế hoạch kinh tế toàn diện nếu mà các quy hoạch toàn diện của Marx là điều không thực tế, là điều không có!

Khoa học Xã hội chủ nghĩa

Theo một số ý kiến kiên cường chống lại chủ nghĩa duy tâm, thì Marx cho rằng những lời chỉ trích của ông về chủ nghĩa tư bản đều dựa trên những phát triển mới nhất trong khoa học. Ông gọi lý thuyết của ông là ” khoa học xã hội chủ nghĩa” để phân biệt rõ ràng với các loại chủ nghĩa xã hội khác, chẳng hạn như Henri de Saint-Simon và Charles Fourier – những người dường như luôn nuôi giấc mơ về một xã hội lý tưởng trong tương lai mà không thấu hiểu xã hội hiện tại thực sự hoạt động như thế nào.

Khoa học Xã hội chủ nghĩa của Marx kết hợp cùng với kinh tế và triết lý, bao gồm cả lý thuyết về giá trị và khái niệm tha hóa, để chứng minh rằng trong suốt quá trình lịch sử nhân loại, một cuộc đấu tranh sâu sắc đã phát triển giữa các nhóm “có” và các nhóm “không có”. Marx cho rằng chủ nghĩa tư bản đã bị vỡ vào một cuộc chiến tranh giữa hai tầng lớp: giai cấp tư sản (giai cấp tư bản sở hữu các phương tiện sản xuất) và giai cấp vô sản (giai cấp công nhân, giới mà bị các nhà tư bản thương xót). Marx tuyên bố rằng ông đã phát hiện ra quy luật của lịch sử – luật mà theo ông sẽ phơi bày được những mâu thuẫn về chủ nghĩa tư bản và sự cần thiết cho các cuộc đấu tranh giai cấp.

Marx dự đoán rằng sự cạnh tranh giữa các nhà đầu tư sẽ phát triển rất khốc liệt, cuối cùng, hầu hết các nhà đầu tư sẽ phá sản, chỉ còn lại một số ít các nhà tư bản độc quyền kiểm soát gần như tất cả các nền sản xuất. Vấn đề này, đối với Marx, là một trong những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản: sự cạnh tranh, thay vì tạo ra các sản phẩm tốt hơn với giá thấp cho người tiêu dùng, thì trong thời gian dài hạn lại tạo ra sự độc quyền, mà dựa theo đó thì các nhà tư bản lại bóc lột sực lao động của công nhân cũng như người tiêu dùng. Điều gì xảy ra với các nhà đầu tư trước đây? Họ lại rơi vào hàng ngũ của giai cấp vô sản, tạo thêm nguồn cung cấp lao động, dẫn đến mức lương bị tuột giảm, và điều mà Marx gọi là ‘sự tăng trưởng lực lượng thất nghiệp dự trữ’. Ngoài ra, Marx nghĩ rằng, bản chất của nền kinh tế thị trường lại phức tạp, hỗn loạn, không có kế hoạch nên sẽ dễ dẫn đến khủng hoảng kinh tế nếu như nguồn cung và cầu trở nên không phù hợp, có thể gây biến động lớn trong hoạt động kinh doanh, và cuối cùng, là khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng.

Marx biện luận rằng một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa càng tiến bộ thì những mâu thuẫn và xung đột lại càng nhiều. Chủ nghĩa tư bản càng tạo ra của cải, thì lại càng gieo hạt giống tự phá hủy càng nặng. Cuối cùng, giai cấp vô sản sẽ nhận ra rằng họ có thể dùng sức mạnh tập thể để lật đổ một số ít các nhà đầu tư còn lại, và sau đó, là toàn bộ hệ thống.

Marx nghĩ rằng toàn bộ hệ thống tư bản chủ nghĩa – với những tài sản cá nhân, tiền bạc, thị trường, kế toán, tổn thất và lợi nhuận, thị trường lao động, và vân vân… – phải được bãi bỏ, và thay thế bằng một hệ thống với đầy đủ các kế hoạch cũng như tự quản lý nền kinh tế sẽ hoàn toàn chấm dứt sự bóc lột và tha hóa. Một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, theo lập luận của Marx, là không thể tránh khỏi.

Một thẩm định

Marx chắc chắn là một nhà tư tưởng sâu sắc, người đã giành vô số tình cảm ủng hộ của nhiều người trên khắp thế giới. Tuy nhiên, dự đoán của ông đã không chịu đựng được sự thử thách của thời gian. Mặc dù các thị trường tư bản chủ nghĩa đã thay đổi trong vòng 150 năm qua, nhưng sự cạnh tranh không hề phân cấp thành các nhà tư bản độc quyền. Trên thực tế thì tiền lương đã tăng và tỷ lệ lợi nhuận đã không suy sụp. Và cũng không có sự hình hành về ‘tăng trưởng lực lượng thất nghiệp dự trữ’ như Marx đã diễn tả. Đúng là chúng ta có những cuộc đọ sức với các chu kỳ kinh tế, nhưng ngày càng có nhiều các nhà kinh tế học tin rằng cuộc suy thoái và tình trạng trì trệ có thể là kết quả ngoài ý muốn của sự can thiệp của nhà nước (thông qua chính sách tiền tệ được thực hiện bởi ngân hàng trung ương và chính sách của chính phủ về thuế và chi tiêu) so với tính năng vốn có của các thị trường.

Chắc chắn rằng các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa có xảy ra trên toàn thế giới, nhưng không bao giờ lý thuyết của Marx dự đoán nó có thể xảy ra trong các nước tư bản tiên tiến nhất. Ngược lại, chủ nghĩa xã hội đã cưỡng bức những người nghèo, ở những nơi thường được gọi là Các nước Thứ ba. Và những cuộc cách mạng thường vô tình bị quần chúng nghèo đói lên án vì họ phải sống trong các hệ thống và chế độ độc tài chính trị. Trong thực tế, chủ nghĩa xã hội đã hoàn toàn thất bại trong việc tạo ra các xã hội ‘phi tha hóa’, tự quản lý, và được kế hoạch một cách đầy đủ. Nó không giải phóng được quần chúng và thay vào đó nghiền nát dân chúng với chế độ trung ương tập quyền, thống trị, và lạm dụng quyền lực nhà nước một cách kinh hãi.

Các quốc gia cho phép quyền sở hữu tư nhân và trao đổi thị trường một cách toàn diện, trái ngược với những “nước dân chủ cộng hòa xã hội chủ nghĩa” của thế kỷ XX, đã được hưởng mức tăng trưởng kinh tế dài hạn đáng khâm phục. Nền kinh tế thị trường tự do đã nâng quần chúng ra khỏi ngèo đói, và tổng thể đã tạo điều kiện và thể chế cần thiết cho một nền chính trị tự do.

Marx đã không hiểu được điều này. Và các môn đệ của ông ta cũng vậy. Lý thuyết về giá trị của Marx, triết học của ông về bản chất con người, và tuyên bố của ông về sự phát minh ra quy luật của lịch sử chỉ phù hợp với nhau nhằm cung cấp một tầm nhìn phức tạp và quy mô về trật tự trong một thế giới mới. Nếu trong ba quý đầu tiên của thế kỷ hai mươi cung cấp nền tảng cho việc thử nghiệm về những tầm nhìn đó, thì cuối thế kỷ hai mươi chúng đã chứng tỏ bản chất không tưởng thực sự và không thể thực hiện được.

Trong cơn trỗi dậy liên quan đến sự sụp đổ hàng loạt của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Mác truyền thống – chủ nghĩa mà các nhà kinh tế học chỉ trích không ngừng trong nhiều thập kỷ qua, thì hiện nay các nhà sùng bái cũng như các cựu Mác-xít lại nghiêm túc đặt vấn đề về chủ nghĩa này. Ngày nay, một số người theo hậu chủ nghĩa Mác vẫn còn tồn tại, điển hình là các nhóm nỗ lực hoạt động không ngừng trong tạp chí nghiên cứu Rethinking Marxism [Cân nhắc lại chủ nghĩa Mác]. Thay vì cố gắng giải quyết các bí hiểm của lý thuyết giá trị lao động hoặc đề ra các mô hình, lý thuyết mới của nền kinh tế kế hoạch, nhiều ‘môn đệ’ sắc nét nhất của chủ nghĩa Mác ngày nay lại đánh giá cao sự phân tích cận biên và những vấn đề kiến ​​thức cũng như khuyến khích cùng hoạt động chung với nhau. Trong nền văn học mới này, Friedrich Hayek dường như có cách nhận thức tích cực hơn so với Marx. Thật khó biết trước những gì sẽ đến qua các loại phát triển này, nhưng chắc chắn nó không giống chủ nghĩa Mác của quá khứ.

David L. Prychitko là giáo sư kinh tế tại Northern Michigan University, Hoa Kỳ. 

Nguồn: Library of Economics and Liberty

—–

Đọc thêm:

Boettke, Peter J. The Political Economy of Soviet Socialism: The Formative Years,          1918–1928. Boston: Kluwer, 1990.

Böhm-Bawerk, Eugen von. Karl Marx and the Close of His System. 1896. Reprint.        Clifton, N.J.: Augustus M. Kelley, 1975.

Burczak, Theodore. Socialism After Hayek. Ann Arbor: University of Michigan Press,   2006.

Elliot, John E., ed. Marx and Engels on Economics, Politics, and Society: Essential Readings with Editorial Commentary. Santa Monica, Calif.: Goodyear, 1981.

Hayek, Friedrich A. The Fatal Conceit: The Errors of Socialism. Edited by W. W.   Bartley III. Chicago: University of Chicago Press, 1988.

Kolakowski, Leszek. Main Currents of Marxism. 3 vols. New York: Oxford University    Press, 1985.

Prychitko, David L. Markets, Planning, and Democracy: Essays After the Collapse of        Communism.  Northampton, Mass.: Edward Elgar, 2002.

Prychitko, David L. Marxism and Workers’ Self-Management: The Essential Tension.        Westport, Conn.:   Greenwood Press, 1991.

TCPT50 – Marx – Những gì còn lại…
Download TCPT50 – Bản in (15MB)
Download TCPT50 – Bản thường (6.5MB)
Download TCPT50 – Bản mini (4MB)

 

Posted in: Chính trị