Ký ức về một ngã ba sông huyền thoại

Posted on Tháng Mười 30, 2011 bởi

0




Ngã ba sông Đà trước ngày giải phóng Điện Biên Phủ (Ảnh sưu tầm)

Tiểu Phong
TCPT số 50

Đầu tháng 9 vừa qua, có dịp về thăm vùng ngã ba sông – giáp gianh giữa hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên, nơi hợp lưu giữa sông Đà, sông Nậm Na và suối Nậm Lay –  tôi thực sự ngỡ ngàng trước sự đổi thay của cảnh quan nơi đây. Trước mắt tôi là một biển hồ mênh mông nước. Không tìm đâu thấy những cảnh vật xưa: Những hòn đảo, những cồn cát ven bờ, những bản Thái Trắng bên sông… với biết bao kỷ niệm. Sau một thoáng ngỡ ngàng là một chút bâng khuân xen lẫn hụt hẫng. Bỏ xe lại giữa cầu Lai Hà (mới)[1], tôi lững thững đi bộ về phía dinh thự Đèo Văn Long cố tìm lại một chút dấu xưa. Những câu chuyện của một thời đã qua bỗng chốc ùa về trong tôi, mới đấy mà nay trở nên xa xăm vời vợi.

****

Ngã ba sông Đà xưa nổi tiếng là nơi thơ mộng với những cánh rừng ban ngút ngàn. Trong tâm thức người Thái Trắng, hoa ban gắn với một câu chuyện tình cảm động và lãng mạn về một đôi trai gái yêu nhau tha thiết, thề thốt suốt đời chung thủy bên nhau, nhưng vì nhà chàng trai quá nghèo, bố mẹ nàng không nhận chàng làm rể. Chàng đành phải từ biệt nàng và ra đi thật xa. Khi trở về, chàng nhận được tin người yêu đã bỏ trốn vào rừng chứ nhất định không chịu để bố mẹ gả bán cho kẻ khác. Rồi nàng chết trong rừng vì đợi chờ, nhớ mong. Chàng đau đớn lần tìm theo dấu vết của người yêu, nước mắt nhỏ giọt xuống từng dấu chân nàng. Ít lâu sau, từ những vết chân ấy mọc lên những cây nở hoa trắng đẹp. Đó chính là cây hoa ban.

Mùa hoa ban nở cũng là mùa lễ hội. Gái trai Thái ngất ngây trong điệu xòe[2]. Và hội hái hoa ban cũng diễn ra trong suốt mùa ban nở. Những đôi lứa rủ nhau đi tìm những cây hoa ban nở rộ để hò hẹn và hái tặng nhau những nhành hoa thơm ngát. Cũng từ cuộc vui này, những mối tình bắt đầu chớm nở và biết bao đôi nên vợ nên chồng. Hoa ban vì thế mà được ví như bông hoa của tình yêu. Cánh ban trắng ngần tượng trưng cho sự tinh khiết, trong trắng của người con gái Thái.

Hoa ban từ lâu đã trở thành một trong những biểu tượng cho cái đẹp ở Tây Bắc (Ảnh sưu tầm)

Hoa ban và xoè Thái là những hình ảnh gắn bó khăng khít, tô điểm cho nhau. Nơi ngã ba sông rực màu hoa ban mùa tháng hai ấy còn là nơi trước kia biết bao trinh nữ Thái Trắng rực rỡ trong các điệu xoè, đẹp đến nỗi họ được ví như những “Nữ thần trinh trắng gìn giữ ngôi đền nghệ thuật xoè”. Ấy là các ban xoè của ông Chúa xứ Thái Đèo Văn Long. Ở nơi đây, lần đầu tiên các điệu xoè dân gian Thái được rèn rũa, tôi luyện để đến hôm nay dâng cho đời một nghệ thuật xoè chuyên nghiệp. Nhưng cũng đáng thương thay cho những số phận, những cảnh đời trinh nữ khi đã thành “gái xoè” của nhà Chẩu phén đin lại trở thành những nô lệ của chốn địa ngục trần gian. Sau những màn xoè mua vui cho tiệc rượu của chúa Thái và quan Tây lại dùng tấm thân mình để thoả mãn dục vọng của bầy lang sói. Khổ đau là thế, tủi nhục là thế! Nhưng hầu hết “gái xoè” đều không dám bỏ trốn bởi những tấm thân mềm mại chỉ quen với xoè, với khắp kia thì làm sao có thể chạy thoát khỏi những tấm thân lực lưỡng của bọn lính lệ nhà chúa rượt đuổi, làm sao vượt được dòng nước sông Đà ngày đêm cuồn cuộn gào thét, với những “thạch trận” giữa lòng sông, những vách đá dựng đứng hai bên bờ? Mà nếu có trốn thoát thì hình phạt của nhà chúa sẽ trút xuống gia đình họ với việc tịch thu ruộng đất, bị phạt đi phu gấp ba lần… Nghe đồn cũng có một số “gái xoè”, lính lệ thương nhau, liều rủ nhau bỏ trốn nhưng rồi đều bỏ mạng ở những con thác Mằn Hi, Mằn Thắm, Hát Nhạt, Hát Lai[3]

Ấy là những con thác dữ nằm trên quãng sông chảy từ Trung Quốc ra đến ngã ba sông thôi. Còn ở ngay chính tại ngã ba này thủa cốt nước hồ thuỷ điện chưa dâng, cảnh sông yên bình lắm; đúng như lời nhật xét của Nhà văn Nguyễn Tuân trong Người lái đò sông Đà: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử, bờ sông hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích ngày xưa”.

Bờ sông ấy trước đây có rất nhiều rêu đá – một món đặc sản độc nhất vô nhị chỉ có ở phương trời Tây Bắc này.

Tôi nhớ lắm cái ngày đầu tiên đặt chân đến bản người Thái Trắng ở ngay đầu cầu Lai Hà. Lúc ấy khoảng đầu tháng Chạp, tôi đã được thưởng thức món rêu đá ngon không thể chê vào đâu được. Cái thứ rêu ngọn dài, óng mượt, lấp lánh, xao động trong lòng nước ở ven sông nơi nước chỉ là là đến đầu gối hay ngang đùi người. Rêu đá được vớt lên rải trên mặt những phiến đá phẳng, rộng, dùng thanh tre, gỗ vừa đập vừa nhặt gốc rêu, sạn, sỏi… Sau đó mới cho rêu vào rửa nhiều lần rồi mang về ủ muối nhạt khoảng 10 – 15 phút rồi rửa lại, thái nhỏ, cho gia vị gồm muối, hành, tỏi, ớt, tiêu rừng, gừng, thì là, lá chanh, củ xả thái nhỏ trộn đều với rêu để chế biến thành những món ăn hấp dẫn.

Ngày ấy, tôi đã được thưởng thức canh rêu đá nấu với thịt dúi, rêu đá đồ cùng cơm xôi… nhưng ngon nhất vẫn là rêu đá vùi trong tro nóng hay nướng trên than hồng. Tôi nhớ mãi hai món được chế biến từ rêu đá là món kay phokay pỉnh. Để làm kay pho, người ta lấy rêu đã tẩm ướp gia vị được gói trong lá chuối, vùi tro nóng, phủ than hồng ngoài tro ủ khoảng hai giờ cho đến khi lá chuối đã khô giòn, mở ra thấy rêu vàng rộm là được. Còn kay pỉnh thì không gói bằng lá chuối mà bằng lá lốt hoặc lá chanh, kẹp tre nướng trên giàn than cao. Khi rêu đã chín thì rán lại trong chảo mỡ xôi. Nghĩ đến đây, tôi lại chợt thèm một lần được thưởng thức lại mùi vị của món kay pho, kay pỉnh: giòn, dai, thơm đậm như cá mực nướng.

Không chỉ là món ăn khoái khẩu của nhiều người, rêu đá còn là biểu tượng cho lòng thủy chung, son sắc. Người Thái Trắng nơi đây vẫn truyền tai nhau truyền thuyết về món rêu đá trong lòng sông Đà.

Truyện kể rằng, “Xưa kia có một anh chàng trai bản yêu một cô gái đẹp gia nô nhà Tạo.

Đội xoè của Chúa Thái Đèo Văn Long (Ảnh tư liệu lưu trữ tại Bảo tàng tỉnh Lai Châu)

Tạo ngăn cản tình yêu của họ vì hắn muốn giữ cô gái làm nàng hầu. Đôi trai gái trèo lên ngọn núi cao, cắt tóc mình bện thành một mối thề nguyền ôm nhau khóc đến chết và biến thành sao Hôm, sao Mai. Nước mắt họ chảy thành dòng sông Đà, tóc của họ hoá thành loài rêu dài loà xoà trong lòng nước”.

Nói sông Đà là con sông huyền thoại thì ngã ba sông này phải được gọi là ngã ba sông đầy ắp huyền thoại. Một trong những huyền thoại có sức sống mãnh liệt trong cộng đồng người Thái Trắng suốt từ Mường So, Phong Thổ dọc theo dòng Nậm Na về đến tận Mường Lay là huyền thoại Hin Bát – tên của một hòn đảo nhỏ hình cái đầu người bị chém sừng sững giữa ngã ba sông từ thuở cốt nước lòng hồ thuỷ điện chưa dâng. Theo huyền thoại này thì hòn đảo ấy vốn là một hòn đá thiêng ở tận thượng nguồn sông Nậm Na ở Kim Thủy Hà (Trung Quốc). Ai sống gần hòn đá thiêng ấy sẽ luôn gặp may mắn. Cách đây mấy trăm năm nó tự nhiên trôi theo dòng Nậm Na khiến cho cả bản người Thái Trắng bồng bế, dắt díu nhau đi theo. Nó trôi đến một bãi cát lớn bên dòng Nậm Na, dừng lại ở đó, người Thái Trắng dừng lại lập bản – gọi là Chiềng Sa[4]. Chẳng bao lâu Chiềng Sa trở nên đông đúc, Hin Bát lại trôi tiếp và dừng ở ngã ba sông này. Phải chăng, vì tin vào truyền thuyết mà ông Chúa xứ Thái Đèo Văn Long đã chọn nơi đây để đặt đại bản doanh. Thậm chí dân gian còn truyền tai nhau bảo rằng trên hòn đảo Hin Bát ấy là nơi chôn cất thi hài mẹ của chúa đất cùng rất nhiều vàng bạc. Sau ngày giải phóng Điện Biên, nhiều người hám của đã ra đảo này đào bới tìm của; nhưng của đâu chẳng thấy, chỉ thấy sau đó là những cái chết hãi hùng bởi lời nguyền.

Không chỉ lãng mạn với những truyền thuyết về tình yêu đôi lứa, bí ẩn bởi những huyền tích cổ xưa, ngã ba sông này còn nổi tiếng là nơi yết hầu hiểm yếu. Vào cái thời giao thông đường thuỷ còn chiếm vị trí độc tôn nơi đây, biết bao hào kiệt, gian hùng đều cố gắng chiếm giữ bởi ngày đó ai làm chủ được ngã ba sông thì sẽ làm chủ được cả vùng này, khống chế con đường lên Phong Thổ, Sa Pa, Mường Tè và xuôi về Hoà Bình cũng như qua ngả Điện Biên sang Lào.

Ngày còn ngồi trong giảng đường đại học, tôi đã từng được nghe giảng rằng: Đèo Cát Hãn, một thủ lĩnh người Thái tại Mường Lễ, châu Ninh Viễn hồi thế kỷ 15 đã nổi lên chống lại triều đình, đem quân đánh chiếm hai lộ Quy Hóa (Lào Cai) và Gia Hưng (khoảng giữa sông Mãsông Đà). Vì lẽ đó, năm 1431 vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã phái hoàng tử Lê Tư Tề và quan tư khấu Lê Sát làm tiên phong, Lê Thái Tổ thì thân chinh dẫn đại quân lên châu Ninh Viễn, đánh tan quân của Đèo Cát Hãn. Vua chiến thắng trở về đã tự tay đề bài thơ “Trị quốc an bang” lên vách đá Pú Huổi Chỏ bên bờ bắc ngã ba sông Đà.

Bọn quân điên cuồng sao dám tránh sự trừng phạt
Dân biên thùy đã từ lâu đợi ta đến cứu sống
Kẻ bầy tôi làm phản từ xưa vẫn có
Đất đai hiểm trở từ nay không còn
Tiếng gió thổi hạc kêu làm cho quân giặc run sợ
Sông núi từ nay nhập vào bản đồ
Đề thơ khắc vào núi đá
Trấn giữ phía Tây nước Việt ta

Ngày lành tháng Chạp năm Tân Hợi (1431)

Ngọc Hoa động chủ đề.

Bia Lê Lợi trước khi được di dời. Ảnh: Tiểu Phong/PHÍA TRƯỚC

Tấm bia cổ Hoài Lai từ đó sừng sững hiên ngang như một cột mốc chủ quyền của vương triều phong kiến Trung ương với sức mạnh như cả ngàn vạn tinh binh án ngữ. Nó nhắc nhở đời đời lãnh chúa phân phong về chủ quyền nơi biên ải rằng: “Dù có được thế tập cũng không được quên rằng đất này đã có chủ”. Nay, vị trí tấm bia đó đã chìm trong nước lòng hồ, còn tấm bia đã được cắt ra, di vén lên cao để tránh ngập.

Mải suy nghĩ miên man, tôi đã đứng trong sân dinh thự họ Đèo lúc nào chẳng hay. Quang cảnh xung quanh không có gì thay đổi, mọi thứ vẫn thế: hoang tàn, lạnh lẽo. Dự án trùng tu, tôn tạo Di tích cấp tỉnh này đã được xúc tiến từ lâu. Bản thân tôi cũng tham gia vào những cuộc khảo sát, sưu tầm tư liệu để phục vụ cho công tác trùng tu, tôn tạo. Nhưng không hiểu sao cho đến nay, dự án vẫn nằm trên giấy, mặc cho nước lòng hồ đã dâng đến chân di tích.

Vẫn biết dòng đời luôn thay đổi như dòng nước sông Đà mỗi ngày mỗi khác, nhưng trong tâm trí tôi lúc này lại trào lên một nỗi ước ao được gặp lại những người cũ, cảnh xưa dù biết rằng niềm mơ ước đó sẽ không bao giờ trở thành hiện thực. Mặt trời đã xế bóng. Những dải núi phía xa ánh lên những tia nắng chiều tà hình nan quạt khổng lồ. Tôi như người sắp chết đuối bỗng vớ được một khúc gỗ nổi: ít ra, bầu trời với ánh nắng cuối chiều nơi đây vẫn như xưa.

T.P.
Lai Châu, ngày 2/9/2011


[1]. Cầu Lai Hà cũ đã bị chìm trong nước.

[2]. Nghĩa của những từ phiên âm tiếng Thái trong bài viết: xoè (múa), khắp (hát), Chẩu phén đin (Chúa đất mường), xá (dụng cụ để rửa rau như cái rổ, cái rá của người Việt), kay pho (rêu vùi tro), kay pỉnh (rêu nướng), Tạo (chức danh đứng đầu một đơn vị hành chính truyền thống của người Thái: bản, mường).

[3]. 4 con thác hung dữ nhất trong số 73 con thác của dòng sông Đà chảy trên địa phận nước ta. Cả 4 con thác này (cùng 6 con thác khác – ít hung dữ hơn: Kẻng Mỏ Trên, La Sa, Hát Vá, Mằn Lay, Hát No Kéo, Kẻng Mỏ Dưới) đều nằm trên quãng sông cách biên giới Việt – Trung trong khoảng từ 10 đến 50 cây số.

[4]. Nay là xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.