Văn hóa Việt Nam phải chăng chỉ có phở?

Posted on Tháng Mười Một 10, 2011 bởi

0



Bùi Nguyễn Quý Anh
TCPT số 4

Món ăn độc đáo này thường được bạn bè năm châu nhắc đến khi nói về văn hóa Việt Nam. Đó quả là một điều đáng tự hào. Nhưng trước quốc tế, chúng ta còn gì khác để tự hào về văn hoá Việt Nam?

Phở – một nét văn hoá Việt Nam

Đầu tiên, chúng ta hãy sơ lược một chút về xuất xứ của món quốc hồn quốc túy này. “Phở xuất hiện ở Việt Nam đã hơn 100 năm. Nhiều người vẫn cho rằng phở xuất phát từ Trung Hoa nhưng nhiều nhà nghiên cứu văn hóa ẩm thực Việt Nam khẳng định ‘phở Việt Nam hoàn toàn khác’. Phở được coi là có xuất xứ từ thành phố dệt Nam Định do nhu cầu cần một món ăn đủ chất nhưng lịch sự, trang trọng hơn những món ăn dân dã như cháo, bún để phục hồi sức khỏe cho người công nhân sau ca làm việc.

Thành phần chính của phở là những sợi bánh phở trắng, to bản; nước dùng có mùi thơm và vị ngọt của xương ống thịt bò, con sá sùng, tôm nõn cùng với hành khô, gừng và thảo quả nướng, được ninh từ chiều tối hôm trước; thịt bò ngon được luộc lên sau đó thái lát thật mỏng.

Ngày xưa, khách ăn phở thường gọi những hàng phở gánh ở đầu phố hoặc đi rong ngoài đường. Một đầu gánh là chiếc chạn con đựng bát đũa, các lọ gia vị và có ngăn kéo đựng bánh phở, thịt bò; đầu kia là bếp lò với nồi nước dùng lúc nào cũng sôi sùng sục được đun bằng than. Ngoài ra, còn có một thùng nước sạch dùng để tráng bánh phở. Về sau, những hàng phở cố định mới hình thành.

Ban đầu, người ta chỉ bán phở bò, tới những năm 50 của thế kỷ trước mới xuất hiện phở gà, phở cá và phở kèm thịt lợn, rồi đến phở xào bò, gà; nhưng người ta vẫn thấy phở bò là hợp vị và ngon hơn cả. Trước đây, phở chỉ được bán vào buổi sáng, nhưng ngày nay phở được bán cả ngày. Bí quyết của những hàng phở ngon chính là ở những loại gia vị cho vào nước dùng sao cho vừa ngọt đậm chất xương, tôm, sá sùng (không có mì chính) nhưng phải béo mà không ngấy.

Phở mang đủ các hương vị, như nhà văn Vũ Bằng đã viết «thịt thì mềm, bánh dẻo, vị cay cay của gừng, hạt tiêu, ớt, cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm
dìu dịu của thịt bò tươi mềm… rồi thì hòa hợp tất cả những vị đó lại, nước dùng ngọt cứ lừ đi, ngọt một cách hiền lành êm dịu, không có chất gì là hóa học».

Trong quá trình di cư sang các vùng đất, gia vị trong phở cũng có một số thay đổi, ví dụ như phở miền Bắc có vị cay nóng để hợp với cái lạnh của khí hậu mùa đông nhưng phở miền Nam thì lại có thêm đường và kèm cả rau ghém….” (*)

Tóm lại, phở có một bề dày thời gian lịch sử, nghệ thuật nấu và công dụng về mặt sức khỏe, và từ đó đã được ông Didier Corlou, bếp trưởng của Sofitel Metropole Hà Nội xếp vào hạng di sản của Việt Nam trong một hội thảo tổ chức hồi cuối năm 2002.

“Tôi thích ăn phở”!

Không biết có phải vì thế mà gần đây nhất trong buổi họp báo nhân dịp một loạt “sao Hàn đổ bộ vào Việt Nam” đã có phát biểu đại ý nói về làn sóng mến chuộng phong cách Hàn ở Việt Nam hiện nay về các mặt ca nhạc, điện ảnh và cả vẻ đẹp hình thể… song lại chốt bằng câu “tôi thích ăn phở” (!) Và tất nhiên, các ca sĩ, người mẫu hay diễn viên của họ khi trả lời báo chí cũng đều chỉ “tôi thích ăn phở” (không biết có thích thật hay lại được “gà bài” trước?).

Ngược dòng thời gian một chút hầu hết những nhân vật từ có ảnh hưởng trong làng nghệ thuật – giải trí cho đến chính khách cũng: “tôi thích ăn phở”!

Nếu bỏ qua những công thức và phép tắc ngoại giao thì việc bạn bè năm châu ngưỡng mộ một món ăn của chúng ta quả là điều đáng hãnh diện. Song, phở tuy được coi là di sản nhưng liệu có cùng loại khi so với âm nhạc hay điện ảnh?

Có thể nào phở sánh ngang sự vượt trội về vóc dáng con người, về phong cách, lối sống, hay những nét văn hoá đặc trưng?

Trong khi chúng ta có thể kể vanh vách diễn viên này đóng những bộ phim nào, chàng ca sĩ kia hát thể loại nhạc gì hay mặc ra sao mới gọi là hợp “mốt” thì các bạn bè gần như “mù tịt” về chúng ta và chỉ biết mỗi món phở; tất nhiên xin trừ những ai đã ăn dầm ở dề ở nước ta và những người có ý nghiên cứu sâu về nước ta.

Đâu rồi những nét văn hoá khác?!

Ẩm thực tuy cũng được xếp vào hàng nghệ thuật nhưng nếu so với các bộ môn nghệ thuật khác thì xem ra vẫn thiên về “ăn, uống” hơn và do vậy phần nào kém đi tính thanh tao, đó là chưa so với các yếu tố văn hóa tinh tế khác. Từ đó có thể nhận thấy chúng ta bị thiệt trong cuộc chơi trao đổi văn hóa: mình thì ngưỡng mộ những ngành nghệ thuật thuộc hàng chiếu trên của người và người cũng chẳng cần phải “ăn dầm ở dề” nhưng mình vẫn thuộc vanh vách, biết “tường tận” những nổi bật của họ, trong khi người chỉ biết hoặc cao lắm là có chú ý đến “chiếu dưới” của mình.

Tiếp tục mạch suy luận sẽ có hai giả thuyết: văn hóa anh quá nghèo nàn chẳng có gì đáng chú ý ngoài món ăn được xem là khá độc đáo này; anh làm văn hóa còn chậm trong khâu quảng bá những nét nổi bật khác của dân tộc.

Với suy luận này, xin được dành câu trả lời cho những ai có trách nhiệm. Chỉ biết hơn ba nghìn năm văn hiến để rồi câu cửa miệng của du khách chỉ là: “tôi thích ăn phở” quả đau lòng.

Đâu rồi những điệu lý, điệu hò phương Nam? Đâu rồi cây đàn bầu độc nhất? Đâu rồi óc duy tân vượt thời đại của Nguyễn Trường Tộ? v.v Sao mà chỉ mỗi “phở, phở và phở”?!

B.N.Q.A.

____

* Tài liệu về phở trích từ: http://www.hotrockcafe.com.vn/phovietnam.asp

S

Download TCPT số 4