Chức năng cơ bản của hiến pháp là gì?

Posted on Tháng Mười Một 15, 2011 bởi

0



Nguyễn Đăng Dung
Nguồn: Dân chủ và Pháp luật, số 6/2011

Một trong những lý do quan trọng giải thích tại sao ngày nay tình trạng tham nhũng trong chính phủ lại lan tràn ở châu Phi là người ta đã dành quá nhiều nỗ lực để tìm cách cứu chữa vấn đề đó hơn là để hiểu được nó.

1. Nhân đọc về công cuộc chống nạn tham nhũng ở Châu Phi của Dele Olowu viết trong cuốn “Governmental Corruption and Africa’s Demcratization Efforts/Corruption and Reform” 1993 tr. 227, tôi cho rằng, nhận định trên không chỉ đúng cho trường hợp chống tham nhũng ở Châu Phi, mà còn có thể đúng cho mọi trường hợp, trong đó cả công cuộc đang tiến hành sửa đổi Hiến pháp của Việt Nam hiện nay, theo tinh thần đã chỉ ra của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 vừa qua. Muốn cho việc sửa đổi Hiến pháp của chúng ta thắng lợi thì trước hết phải hiểu được những vấn đề cơ bản của Hiến pháp. Một trong những vấn đề cơ bản đó là chức năng của Hiến pháp. Đúng là vấn đề này cơ bản thật, nhưng rất tiếc rằng nó không được nhưng biết một cách đầy đủ rộng rãi hiện nay.  Mọi sự vật vận động và biến đổi theo thời gian: hôm nay vấn đề được hiểu như vậy là đúng, nhưng nó sẽ không đúng trong tương lai, đúng như câu nói của Hecraclite (khoảng 530 – 470 tr.CN): Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông. Nhưng sự biến đổi đến mấy đi chăng nữa chúng vẫn giữ cái căn nguyên của chúng, nếu không phải như vậy thì vật  đó đã biến mất và vấn đề khác đã xuất hiện…

Cũng như các vấn đề khác, chức năng của Hiến pháp là vị trí vai trò của Hiến pháp trong xã hội. Mỗi một vị trí vai trò của hiến pháp bao giờ nó cũng xuất hiện trong một điều kiện hoàn cảnh nhất định. Trong một điều kiện hoàn cảnh mới thì vị trí vai trò chức năng của Hiến pháp cũng thay đổi, nhưng cho dù thay đổi thế nào đi chăng nữa thì nó vẫn giữ cái chức năng căn bản của nó. Nếu chức năng căn bản này không còn thì nó cũng không còn là nó nữa.

2. Muốn biết được chức năng căn bản của Hiến pháp chúng ta phải lần lại lịch sử manh nha của Hiến pháp trong lịch sử. Trước hết là bản Đại Hiến chương Magna Carta 1215 và các đạo luật khác có liên quan được gọi là nguồn của Hiến pháp bất thành văn của Anh quốc: 

Magna Charta (Tiếng Latinh: Magna Carta) là bản đại hiến chương của Anh quốc, được ban hành năm 1215. Nội dung của bản hiến chương này là hạn chế quyền lực của nhà vua, đồng thời thừa nhận một số quyền tự do của con người. 

Nhưng cũng có ý kiến cho rằng thực ra Magna Charta chỉ là bản sao từ bản Hiến chương tự do của vua Henry I trước đó năm 1100 và thực tế Magna Charta ở thời trung cổ cũng không có ý nghĩa đáng kể, ngoại trừ vai trò là biểu tượng cho những khát vọng “quyền lực của nhà vua phải bị giới hạn bởi Luật” trong thời kỳ nội chiến ở Anh. Có nhiều tác giả còn bổ sung thêm rằng Magna Charta dù quan trọng nhưng không thể được coi là Hiến pháp thành văn đầu tiên của nhân loại được, đó chỉ đơn thuần là một trong hàng loạt các đạo luật  khởi đầu ở Anh đề cập đến việc bảo vệ quyền con người như Habeas Corpus (Luật cấm bắt giam người trái pháp luật, được Nghị viên Anh thông qua năm 1679 dưới thời vua Charles II),  Petition of Right (Luật khiếu nại về quyền, được Nghị viện Anh thông qua năm 1628 qui định một người chỉ có thể bị tống giam khi có phán quyết của Tòa án hoặc lệnh bắt giữ của cơ quan hành chính [writ]), English Bill of Rights (Luật về quyền của Anh quốc được Nghị viên  Anh thông qua năm 1689 qui định về quyền bầu cử  Nghị viện và quyền tự do ngôn luận trong hoạt động của Nghị viên) và Act of Settlement (Luật về thiết lập trật tự, được Nghị viện thông qua năm 1701 sự thay đổi chế độ cha truyền con nối của nhà vua [Removal from the succession] ở Anh)”1.

Hiến pháp của nước Anh là hiến pháp bất thành văn. Bất thành văn nhưng không có nghĩa là không có hiến pháp. Nước Anh vẫn có Hiến pháp nhưng là hiến pháp bất thành văn bao gồm nhiều đạo luật, nhưng những đạo luật này không được thừa nhận là đạo luật cơ bản. Bên cạnh những đạo luật do Quốc Hội Anh thông qua và được nhà Vua ban hành còn có những tập tục chính trị khác được hình thành dần dần thừ xa xưa, mà khi thi hành quyền lực nhà nước lực lượng cầm quyền buộc phải áp dụng.

Sở dĩ nước Anh có hiến pháp bất thành văn, bởi vì ở họ cho đến cả hiện nay vẫn ngự trị một thành ngữ quen thuộc: Quốc hội là tối cao có thể thông qua bất cứ vấn đề gì trừ việc biến đàn ông thành đàn bà. Quốc hội hôm nay có thể thông qua một hiến pháp này và ngày mai có thể thông qua một hiến pháp khác, cái đó quyền của Quốc Hội. Phải chăng điều này chứng tỏ Quốc hội Anh luôn thay đổi Hiến pháp, hay bằng một cách nói tương đương, người Anh không tuân thủ Hiến pháp, thường xuyên vi phạm Hiến pháp?

Hoàn toàn không phải như vậy với đầu óc bảo thủ và thực tiễn, những gì đã chứa đựng trong tập tục trở thành văn hóa của người Anh thì lại rất khó thay đổi.  Vì vậy những đạo luật của có từ thời Trung cổ cách đây 400 – 500 năm nay vẫn không thay đổi, đấy là hiến pháp của họ. Chính vì lẽ đó cho nên mặc dù Anh quốc là một quốc gia tư bản phát triển, một nền dân chủ làm khuôn mẫu, hoặc ít ra cũng là nguồn gốc cần phải tham khảo của nhiều nước dân chủ khác sau này, nhưng Anh quốc vẫn giữ cho mình một ngoại hình quân chủ.         

Tất cả những đặc tính đó khẳng định Hiến pháp của Anh quốc có chức năng giới hạn quyền lực của nhà vua, và sau đó với sự “trị vị, nhưng không cai trị”, hiến pháp trở thành bản văn giới hạn quyền lực của nhà nước. Đây là chức năng cổ điển hay còn có thể gọi là chức năng cơ bản của Hiến pháp. Nó được hình thành ngay từ khi chúng vẫn còn manh nha và cho đến bây giờ vẫn không thay đổi.

Sự hiện diện của một văn bản quy định  hoạt động của nhà nước đã bao hàm một ý nghĩa nhất định quyền lực nhà nước bị giới hạn. Như trên đã nêu hiến pháp bất thành văn của Anh quốc bao gồm nhiều văn bản và tập tục. Chúng được hình thành một cách một cách chậm chạp, dần dần không phải một chốc, một lát, ngay sau một cuộc đấu tranh giành thắng lợi hoàn toàn  của giai cấp quý tộc đối với một nhà Vua thất bại bị mất ngôi, mà là kết cục của một cuộc đấu tranh dai giẳng không giành thắng lợi một cách hoàn toàn, dưới nhiều hình thức bao gồm cả vũ trang lẫn sự thương thuyết, sự thảo thuận kéo dài hàng chục năm, thậm chí cả một thiên niên kỷ, giữa tầng lớp quý tộc đang muốn giành quyền lực và với nhà vua đang nắm quyền lực một cách vô hạn định, và sau này được thay bằng giữa các lực lượng đang cầm quyền và các thế lực đối lập.

Kể từ khi có bản manh nha của Hiến pháp đến khi có một bản hiến pháp thành văn ở nghĩa hẹp nhất của Mỹ quốc năm 1787 phải mất đến hơn một nửa thiên niên kỷ tiếp theo. Bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của thế giới cũng được thông qua trong một điều kiện cũng trăn trở không kém của Anh quốc, cho dù thời gian có ngắn hơn. Đó là những sự lo lắng cho tồn tại mà không bị quay trở lại thành thuộc địa một lần nữa của 13 bang/tiểu bang đang được tổ chức trong một điều kiện lỏng lẻo của một Hợp bang vừa thoát khỏi sự phụ thuộc vào nước Anh mẫu quốc. Việc thành lập ra nhà nước liên bang của Mỹ quốc cũng nằm trong điều kiện phải trăn trở giữa hai thế lực vị liên bang, muốn có một nhà nước liên bang mạnh mẽ bằng mọi giá để có thể phòng chống sự xâm lược của các cường quốc lúc bấy giờ với phe chống liên bang muốn bảo vệ quyền của người dân và chủ quyền của các tiểu bang vừa mới giành được từ tay Anh quốc.

Khi soạn thảo và thông qua Hiến pháp thành văn đầu tiên này, người Mỹ còn một băn khoăn nữa, mà sau này khi thông qua các bản Hiến pháp ít được để ý. Đó sự lo lắng cho sự chuyên chế của một đa số đối với một thiểu số còn lại. Vì đa số xét cho cùng, cũng là một tập hợp bao gồm đông đảo hơn một số các con người, mà đã là con người thì không phải lúc nào cũng là đúng, nhất là trong trường hợp bị cảm xúc đám đông. Vì hậu quả phải gánh chịu của tệ nạn độc tài chuyên chế của đa số, cho dù là của nhân dân đi chăng nữa, thì cũng chẳng khác gì của sự độc tài chuyên chế của một cá nhân, một ông Vua. Đây cũng là lo lắng trong tư duy của người viết ra bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ của Mỹ quốc – Th. Jefferson:

“Trong Chính phủ của chúng ta quyền lực thực sự nằm ở trong đa số, và sự xâm phạm các quyền cá nhân chủ yếu không phải là do các hành vi của Chính phủ đi ngược lại ý chí của người dân, mà là do các hành vi trong đó Chính phủ là công cụ duy nhất của đa số”2.

Vì vậy, họ quan niệm rằng, quyền lực của Nhà nước, quyền lực của đa số không thể là vô hạn. Với tư cách là đạo luận tối cao của mỗi quốc gia, Hiến pháp phải có chức năng giới hạn quyền lực của Nhà nước. Đây cũng là bình luận của Tocqueville trong cuốn Nền Dân trị của Mỹ quốc được công bố năm 1835, sau hơn 01 năm nghiên cứu ở Mỹ, theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Pháp quốc. Ông viết:

“Tôi cho rằng, bản thân quyền lực vô hạn là một điều xấu xa và nguy hiểm Tôi thấy con người không thể làm nổi việc thực thi quyền lực vô hạn, chỉ có Chúa trời là có quyền lực vô hạn mà không gây nguy hiểm, vì sự không ngoan và sự công bằng của Người luôn luôn cân bằng với quyền lực. Trên đời này không có quyền lực nào đáng trọng vì bản thân nó, hoặc vì nó có được quyền năng thiêng liêng nào đó khiến ta có thể để nó hoạt động mà không cần kiểm soát và chế ngự nó một cách dễ dàng. Nếu như tôi thấy có ai đó trao quyền và khả năng làm mọi việc cho một quyền lực nào đó, có thể là một Nhà Vua, hoặc có thể là nhân dân, có thể là dân trị hoặc quý tộc trị, thực thi trong một chế độ quân chủ hoặc cộng hòa, tôi nói đó chính là mầm mống của bạo quyền và tôi tìm cách đi tìm nơi có luật pháp khác mà ở thôi.3

Tocqueville xem quyền lực tuyệt đối của đa số thoát thai từ nhân dân là vấn đề số một của nước Mỹ. Nguy cơ của một sự chuyên chế của đa số đối với lợi ích của thiểu số là nguy cơ số một ở Mỹ. Để loại trừ vấn nạn này không thể còn cách nào khác hơn là phải giới hạn quyền lực nhà nước. Sự giới hạn quyền lực nhà nước của Hợp chúng Hoa kỳ được thể hiện 2 điểm nhấn cơ bản: Ghi nhận quyền con người trong 10 tu chính sửa đổi đầu tiên ngay sau khi thông qua và hệ thống kiềm chế và đối trọng.

Việc ghi nhận quyền con người trong 10 tu chính án (sửa đổi) đầu tiên là kết quả cả một cuộc đại thỏa hiệp giữa hai trường phái vị mang tên liên bang “federalits”  với dự thảo hiến pháp chỉ có bảy điều chỉ tinh, nói về nhà nước liên bang, với trường phái chống dự thảo, nhưng với tên gọi là chống liên bang (antifederalits)  cương quyết phải có quy định nói về nhân quyền trong hiến pháp. Chính sự cương quyết của phe chống đối cộng với lời khuyên của Jefferson Th. một trong những tác giả chính yếu của trường phái federalits đã phải chắp bút tới 20 điều khoản nhân quyền thêm vào hiến pháp, hơn phân nửa các điều khoản của ông được thông qua. Đó là 10 tu chính án đầu tiên của Hiến pháp. Người đó chính là Madison, sau này được gọi là người cha đẻ của Hiến pháp Hoa kỳ, đồng thời cũng chính là Tổng thống thứ tư của Hoa kỳ. Vì là sự thỏa hiệp nên chính ông cũng cảm tưởng rằng, những điều khỏan này khó có thể thực hiện sau này. Nhưng hoàn toàn không như ông dự đoán, chính những điều khoản này  trên thực tế đã tạo nên sự bền vững của chế độ chính trị cho Hợp chúng quốc Hoa kỳ cho mãi đến tận ngày nay.

Đằng sau khái niệm “kiểm soát và cân bằng” là một quan điểm hiện thực sâu sắc về bản chất con người của Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa kỳ. Nhân chi sơ tính bản ác, mà không phải tính bản thiện như quan niệm của phương Đông của chúng ta, khi tin tưởng rằng con người ở trạng thái hoàn thiện, luôn có lý trí, kỷ luật và công bằng, những người làm Hiến pháp Mỹ cũng phải công nhận luôn tính dễ bị tổn thương trước sự đam mê, cố chấp và ích kỷ nhất là trong trường hợp con người có quyền lực nhà nước. Sau khi bàn về các biện pháp cần thiết nhằm giữ gìn quyền tự do cho con người, Madison , người chắp bút chủ yếu bản Hiến pháp này đã viết:

“Những biện pháp như thế sẽ cần thiết cho việc kiểm soát sự lạm dụng của chính quyền, điều này có thể là một sự phản ánh về bản chất con người. Nhưng bản thân chính quyền là gì nếu không phải là sự phản ánh rộng lớn nhất trong mọi phản ánh về bản chất con người? Nếu con người là những thiên thần thì sẽ không cần thiết phải có chính quyền. Nếu các thiên thần cai quản thì không cần thiết phải có sự kiểm soát đối với chính quyền dù từ bên ngoài hay bên trong. Trong việc tạo khuôn khổ cho một chính quyền do con người quản lý con người, điều khó khăn nhất là ở chỗ: trước hết, chính quyền phải có khả năng kiểm soát những người bị quản lý; kế tiếp, chính quyền phải có nghĩa vụ tự kiểm soát mình”4.

Sự giới hạn quyền lực nhà nước gắn liền với việc khái niệm kiểm soát và rất gần với các khái niệm lân cận như kiểm tra, giám sát, giới hạn, hạn chế, chế ước, trách nhiệm, giải trình… Tuy có những mức rộng hẹp khác nhau giữa chúng, nhưng nhiều khi kiểm soát hay giới hạn quyền lực nhà nước có thể được sử dụng với một trong những từ nêu trên ở nghĩa tương đương.

Tất cả những thực tiễn đó cùng với các học thuyết triết học và luật học đã hun đúc sự trăn trở của một học thuyết, mà mãi sau này mới được thừa nhận ở chúng ta – được gọi là Nhà nước pháp quyền, cái lõi của học thuyết này là chủ nghĩa Hiến pháp. Thuật ngữ chủ nghĩa Hiến pháp hay chủ nghĩa Hợp hiến đều được dịch ra từ một thuật ngữ tiếng Anh là Constitutionalism, đã có từ thời Plato & Aristotle hay Tư tưởng Khế ước xã hội thế kỷ XVII & XVIII Montesquieu, J.Rousseau, J.Mil… được hiểu là những biểu hiện đặc trưng về một Chính phủ hữu hạn mà thẩm quyền tối hậu của nó luôn luôn phải tuân thủ sự đồng ý của nhân dân5.

Giới hạn quyền lực nhà nước đã trở thành chức năng cổ điển của Hiến pháp trong những điều kiện trăn trở như vậy. Và mục đích của chức năng năng này là nhằm chống lại sự lạm dụng quyền lực nhà nước của bất kể thế lực chính trị nào, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất trong chế độ dân chủ luôn luôn thuộc về nhân dân. Muốn giới hạn để kiểm soát quyền lực, thì quyền lực nhà nước không thể là vô hạn, phải được tổ chức theo nhiệm kỳ, phải được tổ chức theo sự phân quyền, phải lấy quyền lực nọ kiềm chế quyền lực kia, theo cách diễn đạt của Madison: Tham vọng phải đối chọi bằng tham vọng. 

3. Sang đến thế kỷ XVIII, XIX và XX, sau một thời gian ra đời mặc dù là muộn mằn hơn, nhưng Hiến pháp đã mau chóng trở thành đạo luật tối cao không một đạo luật nào trong hệ thống pháp luật của quốc gia có quyền mâu thuẫn. Hiến pháp cũng mau chóng vượt ra khỏi phạm vi hạn hẹp chỉ giới hạn quyền lực nhà nước, trở thành văn bản cao nhất quy định quyền lực nhà nước. Hơn thế nữa, Hiến pháp còn góp phần đánh giá bước phát triển của mỗi quốc gia, khẳng định tính chính đáng của nhà nước. Số lượng các nhà nước có hiến pháp tăng lên không ngừng, từ chỗ chỉ một số ít nước đến có chỗ có hàng trăm nước có hiến pháp.

Theo thời gian, chức năng của Hiến pháp có một sự biến đổi nhanh chóng. Hiến pháp sau này nhất là của các nhà nước chậm phát triển, mới giải phóng, thường được thông qua trong điều kiện thành công của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong điều kiện khải hoàn, chứa đầy những cảm xúc của chiến thắng. Lực lượng thắng thế khẳng định quyền lực thuộc về mình luôn bằng cách thông qua một bản Hiến pháp mới, và lẽ đương nhiên phủ nhận hiến pháp hiện hành của chế độ chính trị đã bị lật đổ. Hiến pháp được thông qua như là một bản văn có nhiệm vụ quan trọng trong việc khẳng định sự chính đáng thắng lợi của lực lượng mới lên, khẳng định quyền lực nhà nước mà họ giành được là không thể thay thế, không có sự trăn trở tính toán chi li giữa các thế lực, quyền lực nhà nước của lực lượng vừa giành được chính quyền cũng được tuyên bố vô hạn định, không khác nào quyền lực của các chế độ chuyên chế trước đây.

Sau cuộc cách mạng vô sản thành công ở Liên bang Nga và một số nước lân cận đã kịp thời thông qua bản Hiến pháp để khẳng định thắng lợi của Cách mạng, và quyền lực nhà nước của nhà nước chuyên chính vô sản. Với chế độ kế hoạch hóa tập trung, mọi thứ phải đưa vào Nhà nước để có sự chỉ đạo tập trung thống nhất từ Trung ương. Hiến pháp của các nước xã hội chủ nghĩa không còn nguyên hình là một bản Hiến pháp quy định giới hạn nhà nước, mà được gọi là hiến pháp xã hội. Tất cả đều được đưa vào hiến pháp, không có sự phân biệt nhà nước và xã hội, các bản Hiến pháp này còn được phân tích như là một bản cương lĩnh chính trị, chứa đựng nhiều mục tiêu phấn đấu cho tương lai của Đảng cầm quyền.

Cùng với những nhận thức cũ về chủ nghĩa xã hội các bản hiến pháp này đã làm cho hệ thống xã hội chủ nghĩa rơi vào tình trạng khủng hoảng, buộc phải nhận thức lại con đường phát triển của mình bằng các công cuộc cải tổ và đổi mới. Kết quả một hệ thống xã hội chủ nghĩa gồm hơn 13 nước chỉ còn lại một số ít nước kiên định con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa, trong số đó có Việt Nam . Trên con đường cải tổ và đổi mới, các nhà nước này đều phải thay đổi hiến pháp của mình. Hiến pháp năm 1980 Việt Nam chúng ta được thay bằng Hiến pháp năm 1992 và được sửa đổi và bổ sung bằng Nghị quyết của Quốc Hội năm 2001. Với sự đổi mới công cuộc xây dựng nền kinh tế thị định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều thắng lợi trong lĩnh vực kinh tế, đời sống kinh tế của người dân càng ngày, càng được cải thiện hơn, chế độ chính trị ngày càng trở nên ổn định hơn.

Để mở đường tiếp tục cho công cuộc cải cách ở giai đoạn mới và hiện nay ở Việt Nam theo tinh thần của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục sửa đổi và bổ sung Hiến pháp. Thiết nghĩ rằng, một trong những mục tiêu của việc sửa đổi Hiến pháp hiện nay là làm sao cho các quy định của Hiến pháp càng thể hiện hơn nữa chức năng cơ bản của mình là giới hạn quyền lực nhà nước để bảo vệ quyền của người dân.

Hiến pháp của các nhà nước đang phát triển sau các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc cũng gần nằm trong điều kiện tương tự. Trong điều kiện của chiến thắng, đang ngâm khúc khải hoàn ca, hiến pháp được thông qua thì cũng rất dễ cho việc thể hiện những nhận thức đầy cảm xúc của sự duy ý chí. Phe chiến thắng bao giờ cũng khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về mình một cách vô hạn. Việc soạn thảo và thông qua bản hiến pháp của các nhà nước sau này rất vội vàng, mà không có sự trăn trở đẻ đau thậm chí là một sự thảo hiệp giữa các quan điểm và nhận thức khác nhau như của Anh và của Mỹ. Đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân của sự thay đổi thường xuyên các bản hiến pháp của đang phát triển.

Các bản Hiến pháp được thông qua thời nay với những nội dung vượt ra ngoài sự giới hạn của quyền lực nhà nước thường được gọi là Hiến pháp hiện đại. Hiến pháp hiện đại không những không nhấn mạnh chức năng giới hạn quyền lực nhà nước để bảo vệ quyền của cá nhân, chống sự lạm dụng quyền lực của lực lượng cầm quyền, mà trước hết phải có chức năng duy nhất là phải khẳng định quyền lực nhà nước vô biên của lực lượng vừa chiến thắng. Việc thông qua một bản hiến pháp quy định quyền lực nhà nước trong một điều kiện vội vàng như vậy, thậm chí đang trong giai chan hoà những cảm xúc lớn lao của sự thắng lợi, thì thật khó cho sự trăn trở bảo đảm chức năng cần có của hiến pháp. Điều này thật là tai hại một khi cả một hệ thống pháp luật sau này được thông qua phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp đó. Điều này phải chăng không đúng với sự cảnh báo của Hegel trong tác phẩm “Triết học pháp quyền” của ông, khi ông nhận định về trường hợp Napoléon áp đặt Hiến pháp cho Tây Ba Nha:

Hiến pháp (hay thể chế) của một dân tộc phải xuyên thấm mối quan hệ bên trong nó. Chẳng hạn Napoléon đã cố mang lại cho Tây Ban Nha một hiến pháp theo kiểu a priori (tiên nghiệm, áp đặt) và kết quả là rất tồi. Vì một Hiến pháp không chỉ đơn thuần được “làm ra”; vì nó là lao động nhiều thế kỷ, là ý niệm và ý thức của cái hợp lý tính (trong chừng mực ý thức ấy đã được phát triển trong một dân tộc). Vì thế, không một thể chế hay hiến pháp nào có thể được sáng tạo ra một cách thuần tuý chủ quan . Những gì mà Napoléon đã mang lại cho người Tây Ban Nha là hợp lý tính hơn nhiều những gì họ đã có trước đó, nhưng họ đã vất bỏ như cái gì xa lạ, bởi họ chưa được giáo dục đào luyện đến mức đó. Thể chế hay hiến pháp phaỉ thể hiện tình cảm của dân tộc đó về những quyền và về thực trạng (hiện có) của mình; nếu khác đi nó sẽ không có ý nghĩa hay giá trị, cho dù nó có mặt. Thật thế, nhu cầu và khát vọng về một thể chế  hay hiến pháp tốt thường có nơi những cá nhân riêng lẻ, nhưng để cho quảng đại quần chúng của dân tộc ấy thấm nhuần một sự mong mỏi như thế lại là việc hoàn toàn khác, và việc này chỉ diễn ra muôn màng hơn nhiều. Nguyên tắc về luân lý của Socrate hay tính nội tâm của ông là một sản phẩm tất yếu của thời đại ông, nhưng cần có thời gian để nguyên tắc này trở thành (bộ phận) Tự – ý thức phổ biến6.  

Vì Hiến pháp được thông qua ở thời điểm như vậy, làm cho chức năng hiến pháp có phần xê dịch, hiến pháp không những chỉ quy định về giới hạn quyền lực nhà nước, mà còn quy định nhiều lĩnh vực khác về kinh tế và xã hội, nên việc sửa đổi và bổ sung của hiến pháp của các quốc gia nói trên là lẽ đương nhiên. Việc chỉnh sửa này cũng là dịp làm cho hiến pháp càng gần đúng nghĩa của hiến pháp là bản văn hạn chế quyền lực nhà nước và bảo vệ nhân quyền.

Từ những phân tích ở phần trên có tính chất vừa so sánh và vừa đối chiếu sự ra đời của hai loại hình hiến pháp: Một của các nhà nước phát triển có hiến pháp cổ điển không phải thay đổi một cách thường xuyên liên tục, và loại thứ hai của hiến pháp cần phải thay đổi luôn luôn của các nhà nước xã hội chủ nghĩa cùng với của các nhà nước đang phát triển, có thể thấy rằng, với tính cách là đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý tối cao, Hiến pháp nên và chỉ nên được thông qua ở một giai đoạn thật sự của sự bình tĩnh không chứa đựng cảm xúc, nhất là thời điểm vừa giành được chính quyền, không có những quy định rõ ràng cho sự hạn chế quyền lực nhà nước.

Cũng như các đạo luật khác, với tư cách là một đạo luật, Hiến pháp phải có một đời sống lâu dài, không chỉ cho một lần tổ chức quyền lực nhà nước. Vì vậy, vượt lên trên những tranh chấp chính trị, Hiến pháp phải có chức năng giải quyết các tranh chấp quyền lực bằng con đường hòa bình, thay cho việc giải quyết bằng con đường vũ trang. Muốn vậy thì Hiến pháp chỉ cần quy định việc phân quyền để giới hạn quyền lực và nhân quyền để bảo đảm nhân quyền không được vi phạm.  “Hiến pháp phải là một bản khế ước xã hội đề cao sự thỏa hiệp, thái độ nhúng nhường; thỏa thuận, vì lợi ích chung của cộng đồng. Hiến pháp đảm bảo quyền tự do ngôn luận không phải để chúng ta có thể lớn tiếng với người khác chừng nào cũng được. Nó còn cho chúng ta cơ hội có một thị trường ý tưởng tuyệt vời, một nơi mà “sự va chạm giữa các đảng phái” xảy ra nhờ “thảo luận và thận trọng”, một nơi mà thông qua tranh luận và cạnh trạnh, mở rộng tầm nhìn, thay đổi ý kiến và cuối cùng không chỉ đạt được đồng thuận, mà còn đồng thuận một cách hợp lý và công bằng” 7.

Sở dĩ các nước Trung Đông, Bắc Châu Phi hiện nay các lực lượng cầm quyền và phe đối lập đang giao tranh quyết liệt với nhau buộc phải có sự tham chiến của các quốc gia bên ngoài, bởi lẽ rằng hiến pháp của các nhà nước này đã không có những quy định trù liệu cho việc giải quyết các tranh chấp quyền lực khi chúng xảy ra, hoặc có đi chăng nữa, thì chúng cũng không đủ hiệu lực cho việc giải quyết các tranh chấp đang xảy ra. Những quy định trù liệu cho việc giải quyết các tranh chấp thường là một trong những nội dung cơ bản của chức năng giới hạn quyền lực của Hiến pháp.

Kết luận

Với tư cách là đạo luật có hiệu lực pháp lý tối cao của mỗi quốc gia, hiến pháp ngày càng có vị trí vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh đời sống chính trị của mỗi quốc gia. Theo từng thời kỳ vai trò của hiến pháp luôn có sự thay đổi. Nhưng cho dù có thay đổi như thế nào đi chăng nữa thì Hiến pháp vẫn phải giữ lại chức năng cổ điển vốn có của mình là giới hạn quyền lực nhà nước. Khi sửa đổi Hiến pháp, các quốc gia luôn có xu hướng tìm lại chức năng cũ của nó. Chính sự quay trở lại này mới có khả năng làm cho Hiến pháp có “đời sống pháp lý” dài hơn và ổn định hơn. Đó chính là mục tiêu chính đáng của bất kỳ sự sửa đổi nào của Hiến pháp các nước đang chuyển đổi. 

______

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Minh Tuấn: Hiến chương  Magna Charta, Chương Nhà nước tư sản Anh, trong sách: Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007.

2. Xem JeFFer. Th.1788

3. Tocqueville, Nền dân trị Mỹ, Nxb. Tri thức, tập 1, Hà Nội, 2006

4. Federalits, No 10, Khái quát về chính quyền Mỹ quốc, Nxb Thanh niên, 2006

5. M. Shafritz, Từ điển Chính quyền,  Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.

6. G.W.F. Hegel, Các Nguyên lý của Triết học pháp quyền, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2001.

7.  Barack Obama, Hy vọng táo bạo, Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội, 2008.

Advertisements