Thể chế hóa quyền được thông tin

Posted on Tháng Mười Một 15, 2011 bởi

1



GS. Tương Lai
Nguồn:   Tạp chí Tia Sáng

Tuyên bố của người đứng đầu Chính phủ trước kỳ họp thứ VIII của Quốc hội “Các cơ quan Nhà nước phải tôn trọng quyền được thông tin của dân, bảo đảm cho báo chí tiếp xúc với các hoạt động của mình. Việc thực hiện điều này không thể tùy thích mà phải coi là một nghĩa vụ thể hiện tính chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Những quy định cụ thể về quyền được thông tin của dân cần được thể chế hóa” đánh dấu một bước phát triển mới đáng mừng trong việc “Mở rộng dân chủ và xây dựng Nhà nước phát quyền” đúng như chủ đề của phần cuối bản Báo cáo của Chính phủ.

Đây là một cách làm cho khẩu hiệu “dân biết, dân bàm, dân kiểm tra” không chỉ là lời kêu gọi suông mà phải biến thành sức mạnh hành động. Thể chế hóa quyền được thông tin là căn cứ pháp lý để một công dân thực thi nội dung của khẩu hiệu đã hàm chứa nội dung sức mạnh của xã hội đân sự hỗ trợ cho Nhà nước pháp quyền vốn gắn với nhau như bóng với hình.

Thật ra thì chuyện này không mới mà đã được thực hiện tư lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới vốn có bề dày hoạt động của Nhà nước phápquyền và xã hội dân sự.Vì “quyền được thông tin” là một thành tựu của văn minh mà loài người đã đạt được trong cuộc đấu tranh tự giải phóng của con người, cho con người. Đó là một minh chứng của trình độ phát triển của Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Vì nền tảng của Nhà nước ấy làt trình độ dân trí được nâng cao.

Chẳng hạn như, ở Thụy Điển, quyền được thông tin của người dân là một quyền được Hiến pháp quy định. Trong “Quyền được tiếp cận với các văn bản chính thức ở Thụy Điển” do Bộ Tư pháp Thụy Điển xuất bản năm 1996 có ghi rõ điều này: “Nguyên tắc về việc công chúng được quyền tiếp cận với các văn bản chính thức được nói đến lần đầu tiên trong luật về tự do báo chí năm 1766. Luật đó giờ đây là một phần của Bộ luật tự do báo chí hiện tại và là một đạo luật có tính hiến định của Thụy Điển”.

Trong xã hội thông tin với nền kinh tế tri thức hiện nay thì thông tin cần cho con người hiện đại như cần không khí để thở vậy. Đành rằng thông tin chưa phải là tri thức. Chẳng thế mà có nhà khoa học đã than rằng chúng ta đang chết ngộp trong thông tin song vẫn đang đói tri thức đó sao! Song nếu không có thông tin thì không sao có tri thức.

Cho nên, quyền được thông tin, quyền được tự do tiếp nhận thông tin, tự mình phân tích thông tin để chuyển thành tri thức là chỉ báo của trình độ phát triển của một quốc gia. Khái niệm những nước”đã phát triển”, “đang phát triển” và “chậm phát triển” trong thế giới chúng ta đang sống tùy thuộc vào nhiều dữ kiện, trong đó các quyền nói trên giữ vị trí rất quan trọng và không kém phần quyết định. Và, bưng bít thông tin là một thảm hoạ cho con người trong thế giới hiện đại, cũng là thảm họa cho một dân tộc đang tìm đường phát triển cùng nhịp với thế giới

“Quyền được thông tin”, “thể chế hóa” quyền đó của người dân và bảo đảm cho báo chí tiếp xúc được với các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có ý nghĩa nhiều mặt cho sự phát triển đất nước, chứ không riêng đối với tác động trực tiếp của việc phòng chống tham nhũng mà Luật này sẽ được Quốc hội kỳ này xem xét thông qua.

Quyền được kiêng tin, quyền được tự do tiếp nhận thông tin, tự mình phân tích thông tin để chuyển thành trí thức là chỉ báo của trình độ phát triển của một quốc gia. Khái niệm những nước “đã phát triển”, “đang phát triển” và “chậm phát triển” trong thế giới chúng ta đang sống tùy thuộc vào nhiều dữ kiện, trong đó các quyền nói trên giữ vị trí rất quan trọng không kém phần quyết định.

Chúng ta đã có bài học cay đắng về hệ lụy khủng khiếp của tệ bưng bít thông tin trong đại dịch SARS cách đây không lâu. Xuất phát từ một bệnh nhân là người bán gia cầm ở một thị trấn nhỏ của tỉnh Quảng Đông Trung Quốc, thông tin bị ém nhẹm. Phải mất gần 4 tháng, tức là từ tháng 11/2002 đến tháng 02/2003, thông tin về hiểm họa Sars mới đến được với Tổ chức y tế thể giới (WHO), rồi mãi đến 02/4/2003, tức là phải mất gần 2 tháng, những chuyên gia của WHO mới đến được Quảng Đông để khởi đầu được cuộc điều tra về dịch bệnh này, để rồi đến 20 ngày sau đó dịch bệnh đã lan ra 25 nước. Hàng chục tỷ đôla thua thiệt từ ngành du lịch Trung Quốc hồi ấy, đi liền với những phản ứng dây chuyền khác là cái giá mà con người đang sống trên hành tinh này phải trả cho chuyện bưng bít thông tin!

Ấy thế mà câu chuyện bưng bít thông tin vẫn lại đang gây hiểm họa cho con người trong cơn đại dịch cúm gia cầm hiện nay do “Indonesia giấu thông tin dịch cúm gia cầm từ hai năm nay”. Virut cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên Java năm 2003. Khi được hỏi về vấn đề này, Bộ trưởng Nông nghiệp nước này cho biết: vấn đề là chúng tôi không muốn công bố chuyện này quá nhiều vì nó sẽ ảnh hưởng đến ngảnh chăn nuôi gia cầm của chúng tôi. Vì sợ “Giá gia cầm sẽ bị rớt thảm hại…” (Tuổi trẻ 21/10/2005) mà người ta bưng bít thông tin. Nhưng cái giá mà tất cả những quốc gia sống trên hành tinh này phải trả cho chuyện đó thì khó mà tính ra được! Vì cho đến khi ông Chairul Nidom, nhà vi sinh học đầu tiên phát hiện virus gây bệnh cúm gia cầm ở đảo Java có mã gen giống virus cúm gia cầm Trung Quốc, bất chấp sự “vận động” và ngăn cản đã đưa thông tin cho báo chí vào cuối tháng 01/2004 thì dịch đã vượt khỏi ranh giới đảo Java sang Bali và Sumatra và đến nay thì đại dịch đó đang là mối đe doạ toàn hành tinh!

Có lẽ đây cũng là bằng chứng hiển nhiên, dễ nhận biết về tính bất định và không dự đoán được của thế giới mà chúng ta đang sống đã trở nên phức tạp khó lường và phụ thuộc lẫn nhau quyết liệt đến thế nào! Chính trong bối cảnh đó mà người ta cảm nhận thật thấm thía cái giá phải trả cho những hệ lụy của một tập quán bưng bít thông tin trong nhịp sống của hành tinh này .

Chỉ bằng nhũng kinh nghiệm cũ, cách tư duy cũ, nhất là với sức ép nặng nề của những tập quán cũ, chúng ta sẽ không thể đối phó được với tính bất định của thế giới mà chúng ta đang sống, ví như việc chim di trú mang bệnh cúm gia cầm đi khắp nơi trên hành tinh vượt qua mọi biên giới lãnh thổ quốc gia! Dù có bị cầm tù bởi những tập quán đã ăn sâu vào tâm thức của cả một dân tộc, sự nghiệt ngã của thực tế cuộc sống buộc người ta phải quyết liệt thanh toán nó.

Quả thật, tìm kiếm thông tin, thu nhận thông tin, phân tích và xử lý thông tin một cách nghiêm cẩn, độc lập là trung thực để rồi từ đó mà biết đưa ra những quyết định phù hợp là điều có ý nghĩa quyết định hàng đầu đối với con người sống trong thế giới hiện nay.

Bởi vậy, “quyền được thông tin”, “thể chế hóa” quyền đó của người dân và bảo đảm cho báo chí tiếp xúc được với các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có ý nghĩa nhiều mặt cho sự phát triển đất nước chứ không riêng đối với tác động trực tiếpcủa việc phòng chống tham nhũng mà Luật này sẽ được Quốc hội kỳ này xem xét thông qua .

Đương nhiên, với nạn tham nhũng đang được gọi là giặc nội xâm thì thể chế hóa hai vấn đề nói trên chính là một vũ khí tinh nhuệ. Chính ở trong “Văn bản của Thụy Điển” trích dẫn ở trên tôi cũng đã đọc thấy nội dung đó: “Mọi công chức đều biết một nguyên tắc rằng mọi người đều có thể tiếp cận các hồ sơ và các tài liệu. Điều đó làm giảm nguy cơ có những hành động tùy tiện. Bên cạnh đó người ta cũng thường nói rằng việc tiếp cận được với các thông tin chính thức cũng đóng góp vào việc làm cho hiên tưọng tham nhũng trong chính quyền Thụy Điển trở thành một hiện tượng hiểm họa

Càng ngẫm nghĩ, càng nhận rõ thông tin là một loại sản phẩm độc đáo. Độc đáo ở chỗ nếu anh cung cấp cho người khác thì nó không mất đi mà lại tăng lên. Đây là lúc mà ý tưởng tuyệt vời được phát ra từ thế kỷ trước về sức mạnh của kiến thức và thông tin ngời ngợi tỏa sáng trước mắt chúng ta: “anh ta thắp sáng ngọn nến của tôi và nhận ánh sáng mà không hề làm cho tôi bị tối đi”.

Hãy tự thắp sáng ngọn nến trí tuệ của chính mình bằng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau được thu nhận và xử lý một cách thông minh, độc lập trung thực, có chủ định và sáng tạo. Đó là cách tồn tại và phát triển thông minh trong một thế giới đầy biến động bất ngờ mà chúng ta đang sống. Đó cũng là đòi hỏi hàng đầu của quá trình hội nhập quốc tế.

Advertisements
Posted in: Chính trị