Việt Nam dưới sức nặng của Trung Quốc

Posted on Tháng Mười Một 16, 2011 bởi

0



Lê Hồng Hiệp, Đại học Quốc gia Việt Nam
Bản tiếng Việt trích từ Tập san Dân Chủ số tháng 10/2011
Nguồn: East Asia Forum

Nhiều nhà nghiên cứu ví Trung Quốc là con gà trống, Bắc Hàn là cái mỏ và Việt Nam là đôi chân của gà.

Lối ví von này nói lên tầm quan trong chiến lược của Việt Nam đối với Trung Quốc, đặc biệt về vấn đề an ninh, trong khi vẫn ve vãn rằng Việt Nam cần sống dưới sức nặng của họ. Vì vậy, theo lời của GS Carlyle Thayer, là Việt Nam bị phê phán đã quá lệ thuộc vào sự “áp chế địa lý” vì không còn lựa chọn nào khác mà phải tìm cách chia sẻ số phận có chung biên giới với Trung Quốc.

Một nước Trung Quốc với sức mạnh vượt trội đã từng là mối đe doạ đối với nền an ninh của Việt Nam. Trong quá khứ Việt Nam đã từng bị Trung Quốc đô hộ gần một ngàn năm [1] cho đến năm 938. Thậm chí sau giai đoạn người Pháp thiết lập chế độ thực dân trên đất Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ 19, Trung Quốc vẫn dính líu rất sâu với ý đồ xâm chiếm Việt Nam, mà trận chiến ngắn ngủi nhưng đẫm máu năm 1979 và sau đó là cuộc đụng độ trên biển giữa hai nước trong vùng biển Đông là bằng chứng rất rõ nét.

Mối đe doạ của Trung Quốc đối với Việt Nam ngoài yếu tố địa lý ra còn có lý do bất cân xứng về diện tích và sức mạnh giữa hai nước. Vể diện tích, Trung Quốc rộng gấp 29 lần so với Việt Nam, và với dân số tuy đứng hàng thứ 14 trên thế giới nhưng Việt Nam chỉ bằng một tỉnh cỡ trung bình so với Trung Quốc.

Những thành tựu kinh tế rất đáng kinh ngạc của Việt Nam bắt đầu vào cuối thập kỷ 1980 vẫn chưa thể nào giúp rút ngắn khoảng cách chênh lệch về sức mạnh giữa hai nước. Lý do là công cuộc hiện đại hóa kinh tế của Trung Quốc đã tạo ra khoảng cách rất lớn về quyền lực giữa hai nước vốn đã quá cách biệt lại càng cách biệt nhiều hơn. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, tổng sản lượng nội địa của Trung Quốc đã gia tăng 16 lần trong thời gian khoảng từ năm 1985 đến 2009 từ mức 307 tỷ Mỹ kim đến 4,985 nghìn tỷ. Trong khi đó, tổng sản lượng của Việt Nam chỉ tăng 6 lần trong cùng thời gian, từ 16 tỷ Mỹ kim trong năm 1985 lên 97 tỷ Mỹ Kim vào năm 2009.

Với tốc độ phát triển kinh tế của Trung Quốc, sức mạnh quân sự của nước này cũng được tăng cường đáng kể, càng tạo nên mối đe doạ vô cùng đáng ngại cho sự an nguy của Việt Nam. Theo công bố chính thức, chi phí quân sự của Trung Quốc cho năm 2011 là 91.5 tỷ Mỹ kim, trong khi Việt Nam chỉ dành cho quân sự có 2.6 tỷ Mỹ kim. Đặc biệt đáng lưu tâm hơn nữa là sự gia tăng chi phí quốc phòng của Trung Quốc nhắm vào lực lượng không quân và hải quân để có đủ sức mạnh tỏa rộng trên toàn vùng biển được biết đến với tên Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), là nơi đang có tranh chấp với Việt Nam.

Sự chuyển mình của Việt Nam vào môi trường kinh tế tự do cũng tạo thêm một yếu tố vào tình trạng áp chế địa lý: đó là nền kinh tế gia tăng với nhiều bấp bênh.

Từ khi Việt Nam tái tục giao thương với Trung Quốc vào cuối thập kỷ 1980, nền sản xuất nội địa thường xuyên bị hàng hoá Trung Quốc lấn át – hàng hàng lớp lớp các loại hàng được chuyển qua biên giới vừa chính thức vừa không chính thức (buôn lậu) để vào Việt Nam. Điều này không chỉ tác động xấu đến nền sản xuất của Việt Nam mà còn đặt Việt nam vào thế nguy khốn khi giới tiêu thụ sử dụng toàn hàng có chứa độc chất rất tai hại cho sửc khoẻ người dân.

Một bấp bênh khác cũng nên nhắc là việc giao thương với Trung Quốc đã tạo nên lỗ hổng thâm thủng triền miên, nội trong sáu tháng đầu năm 2011 thì mức này tăng đến 5.4 tỷ Mỹ kim trên tổng số 7.5 tỷ Mỹ kim giao dịch. Trung Quốc hiện nay là chủ hàng hoá nhập cảng lớn nhất vào Việt Nam, dựa theo con số đưa ra trong một quý của năm 2010. Việt Nam còn lệ thuộc nặng nề vào nguyên liệu của Trung Quốc để chế biến một số hàng xuất cảng chính, trong khi lượng xuất cảng sang Trung Quốc chỉ là con số nhỏ nhoi so với lượng nhập vào. Nếu vì lý do nào đó Trung Quốc ngưng giao thương với Việt Nam thì nền kinh tế của Việt Nam sẽ bi thiệt hai vô lường.

Mối lo nữa là các công ty Trung Quốc được trúng thầu đến 90 phần trăm những hợp đồng trong các ngành cơ khí, bảo trì và xây cất liên quan đến phần lớn các dự án kỹ nghệ chính yếu, đặc biệt ngành điện than. Các nhà thầu Trung Quốc được ưu tiên vì kỹ thuật giá rẻ và được các ngân hàng phía Trung Quốc hứa cung cấp tài chánh cho các dự án đó.

Tuy mang tiếng là thực thi các dự án với giá rẻ, nhưng Việt Nam thật sự đang phải trả giá quá đắt. Trước hết, kỹ thuật rẻ thường gây ra ô nhiễm môi trường rất nặng nề. Qua các báo cáo cho thấy kỹ thuật cho thấy thì những kỹ nghệ mà các công ty Trung Quốc dùng tại Việt Nam đã bị đình chỉ hay hủy bỏ tại Trung Quốc từ năm 2005. Thứ đến, khả năng kỹ thuật của các nhà thầu Trung Quốc quá yếu kém, khiến cho nhiều dự án bị chậm trễ. Thậm chí dự án nào thực hiện đúng thời hạn thì phẩm chất công trình quá tồi tệ khiến cho việc bảo trì rất tốn kém cho chủ dự án. Thứ ba là các nhà thầu Trung Quốc không chịu sử dụng những sản phẩm có sẵn tại địa phương mà họ chỉ nhập thẳng từ Trung Quốc sang, khiến cho mức thâm thủng mậu dịch giữa hai nước càng tăng thêm. Ngoài ra, các nhà thầu Trung Quốc còn đưa nhân công người của họ mà không chịu sử dụng nhân công Việt Nam. Điều này tạo nên làn sóng căm phẫn trong dân chúng Việt Nam.

Hồi gần đây, nền kinh tế bấp bênh của Việt Nam có liên quan đến mối giao thương với Trung Quốc là tình trạng mua nông sản Việt Nam với số lượng khổng lồ. Sự kiện này làm vật giá gia tăng trong khi nhà cầm quyền đang tìm cách chận đứng đà lạm phát một cách vô vọng. Nội trong tháng Sáu 2011, giá cả tăng 20.8 phần trăm.

Tuy nhiên, Việt Nam cũng có vài lối mở cho nền kinh tế bấp bênh mà đất nước đang phải đối diện với Trung Quốc. Một mặt, Việt Nam phải tuân thủ những quy định về giao thương và đầu tư quốc tế mỗi khi đưa ra các phản ứng vì Việt Nam đã gia nhập vào Tổ chức Mậu dịch Thế giới năm 2007. Mặt khác, Việt Nam hy vọng sự phát triển kinh tế tương thuộc (mặc dù bất cân xứng) sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ Trung Quốc dùng võ lực chống lại Việt Nam, đặc biệt về vấn đề tranh chấp Biển Đông. Dù sao thì việc làm ăn với người láng giềng hơi mịt mù này, Việt Nam vẫn còn thấy rẻ và thuận tiện hơn nhiều so với các bạn hàng khác.

Kết quả là Việt Nam tích cực tiếp tục giao thương Trung Quốc, đặc biệt là cho phép sự thu hút đầu tư vào phát triển kinh tế ở  khu vực phía bắc. Tục ngữ Việt Nam có câu mật ngọt chết ruồi. Bài học cần thiết cho Việt Nam là phải luôn luôn đề cao cảnh giác trước hiểm hoạ của Trung Quốc, bằng cách này hoặc cách khác thì sách lược của Việt Nam phải dung hoà được các yếu tố kinh tế trong tình trạng áp chế địa lý mà đất nước đang phải chịu mỗi ngày một nặng.

L.H.H.
Ngày 27 tháng 8, 2011

Lê Hồng Hiệp là giảng viên của Bộ môn Quan hệ Quốc tế, Khoa học XãhHội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Vịêt Nam, TP HCM, và hiện là ứng viên chương trình tiến sĩ tại Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Úc-đại-lợi.

Phiên bản của bài này nguyên được đăng trên tờ The Diplomat.

[1]. Chú thích của người dịch: Theo lịch sử thì Việt Nam bị Hán Vũ Đế xâm chiếm vào năm 111 (Tr.CN) cho đến 938 (Sau CN), tổng cộng là 1,049 năm (111+938), chưa kể thời gian bị đô hộ bởi Triệu Đà từ năm 207 đến 111 (Tr.CN). Tính sơ theo tài liệu trên thì Việt Nam bị Trung Quốc chiếm và đô hộ gần 1,245 năm.

Advertisements
Posted in: Chính trị