Nền kinh tế Việt Nam cần giảm nhiệt

Posted on Tháng Mười Một 24, 2011 bởi

0



Hồng Phúc biên dịch, CTV Phía Trước
Geoffrey Cain, GlobalPost

“Con hổ châu Á” Việt Nam đang đối mặt với lạm phát và tham nhũng.

HỒ CHÍ MINH, Việt Nam – Bốn năm trước, tương lai Việt Nam rất tươi sáng. Các chủ đầu tư và kinh tế gia tuyên bố rằng thị trường mới nổi 86 triệu người này sẽ phát triển thành một “con hổ châu Á”, và sẽ là quốc gia tiếp theo có mức thu nhập trung bình bằng cách thu hút đầu tư nước ngoài.

Các công ty từng tìm kiếm lao động giá rẻ ở Trung Quốc đã đa dạng hóa nguồn vốn và bắt đầu đổ tiền vào Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, chủ yếu là vì lực lượng lao động trẻ và rẻ tiền. Và các công ty đa quốc gia như Intel và Samsung dẫn đầu trong các nhóm đầu tư khi họ xây dựng nhà máy trong nước trị giá $1 tỷ USD và 670 triệu USD.

Hiện nay, nền kinh tế đang bị quá nhiệt nhưng vẫn chưa đến nổi phải sụp đổ hoàn toàn. Tuy nhiên, nền kinh tế bấp bênh của Việt Nam đã cho thấy các dấu hiệu khó khăn mà từ các lý do này “phong trào Chiếm phố” đã bắt nguồn ở nhiều nơi trong thời gian qua. Nhưng liệu vấn đề này có dấy lên phong trào chiếm các đường phố ở Hà Nội trong thời gian tới hay không?

Các quan chức chính phủ đang tiến hành các bước để cắt giảm lạm phát và thâm hụt ngân sách. Vào tháng Chín, lạm phát đã lên đến 22%  so với cùng kỳ năm ngoái, làm giảm sức hấp dẫn lao động giá rẻ của Việt Nam đối với các nước Đông Nam Á khác như Malaysia và Campuchia.

Nếu các viên chức chính phủ thật sự nghiêm túc muốn phục hồi lại ý nghĩ lạc quan của nền kinh tế Việt Nam, thì trước tiên họ sẽ cần phải kiểm soát sự liều lĩnh và bí mật của các doanh nghiệp nhà nước vì các doanh nghiệp này đã góp phần phá hoại khả năng cạnh tranh của đất nước và tiếp tay với tham nhũng.

Các doanh nghiệp này, trước đây được gọi là công ty quốc doanh (state-owned enterprises), chủ yếu đã góp phần làm tăng tỷ lệ lạm phát cao ngất ngưỡng ở châu Á và dìm chết các doanh nghiệp tư nhân cùng với số lượng sản xuất cạnh tranh trong quá trình này.

Tại Việt Nam, các doanh nghiệp nhà nước là trụ cột chính của nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thường được điều hành bởi các cá nhân cán bộ cộng sản ưu tú.

Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước là lãng phí, chưa đúng tầm vì họ tiêu thụ gần một nửa số vốn mới của Việt Nam nhưng chỉ sản xuất tương đương với 1/4 GDP của nước này.

Ông Edmund Malesky, kinh tế gia tại Đại học California ở San Diego lập luận rằng, gốc rễ của sự suy giảm này đã nảy mầm từ năm 2007 đến 2010, các tập đoàn đã lợi dụng số vốn mở rộng $100 tỷ USD trong các cổ phiếu tín dụng trong nước cho phép họ đầu tư ngoài chuyên ngành.

Tín dụng thấp đã lần lượt tạo ra các nhu cầu quá mức, vượt quá sản xuất công nghiệp, làm tăng giá song song với chi phí thực phẩm và nhiên liệu toàn cầu gia tăng.

Các chính trị gia trong nước thích làm ăn với các doanh nghiệp này, như một cách để họ tự hạ nhiệt từ những khó khăn của thị trường. Một trong các ví dụ nổi tiếng nhất, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng tuyên bố Vinashin – một tập đoàn nhà nước đóng tàu được hưởng rất nhiều đặc quyền chính trị – như một mô hình để đưa Hà Nội vào nền kinh tế thế giới.

Sau đó vào tháng 12 năm 2010, tập đoàn đã không có khả năng trả khoản vay trị giá $600 triệu USD sắp xếp bởi Credit Suisse. Số nợ của Vinashin lên đến $4,4 tỷ USD trong khi họ cố tình chuyển vốn ra bên ngoài lĩnh vực chuyên môn, như quản lý khách sạn và xe máy, cùng với nhiều hoạt động khác.

Một tài liệu do thanh tra chính phủ thực hiện đã cho thấy tập đoàn Vinashin “thiếu năng lực”.

Bốn tháng trước khi số nợ đáo hạn, các nhà chức trách bắt giữ cựu Chủ tịch HĐQT Phạm Thanh Bình, cáo buộc ông đã làm giả các tài liệu, sổ sách của công ty. Tháng trước, chín giám đốc điều hành của Vinashin đã chính thức bị buộc tội vi phạm các quy định của chính phủ, gây thất thoát $43 triệu USD.

Moody’s đã hạ cấp xếp hạng tín dụng của Việt Nam và trích dẫn việc này sẽ gia tăng chi phí vay mượn trên thị trường quốc tế do tập đoàn gần sụp đổ này gây ra. Cho đến hết ngày 19 tháng 10, chủ nợ vẫn chưa liên lạc được với cả hai công ty và các viên chức nhà nước, và không rõ khi nào – hoặc nếu họ có được trả tiền hay không.

Chủ nợ không có khả năng tiến hành các biến pháp pháp lý tại tòa án yếu kém của Việt Nam, đặc biệt là trong một đất nước mà họ cần thiện chí chính trị để bảo đảm các giao dịch trong tương lai.

“Những doanh nghiệp nhà nước này thường rất mạnh, và chúng có mối quan hệ rất chặt chẽ và thường xuyên với các nhà lãnh đạo hàng đầu,” nhà kinh tế Malesky cho biết.

Các nhà phân tích lo ngại các sụp đổ tương tự có thể đang diễn ra ở một số doanh nghiệp nhà nước khác, vì sự thiếu minh bạch trong các giao dịch của những công ty này.

Thay vì thay đổi nhằm hạn chế sự thái quá của các công ty, các nhà lãnh đạo đã tập trung vào tái cơ cấu những trầy xước bề mặt của vấn đề. Họ đã giới thiệu một gói vay nhằm tăng lãi suất và kiềm chế tăng trưởng tín dụng vào tháng Tư vừa qua.

Nếu các nhà hoạch định chính sách muốn thúc đẩy sự đổi mới và tăng trưởng, họ cần giảm vốn vào các doanh nghiệp nhà nước khổng lồ và nên hướng đến các công ty cạnh tranh tư nhân, ngoài việc giảm tăng trưởng tín dụng để làm chậm lại mức lạm phát.

Chiến lược này đã thành công ở Trung Quốc, nơi mà doanh nghiệp nhà nước không còn phụ thuộc hoàn toàn vào chính phủ để đáp ứng các vấn đề liên quan đến tín dụng.

Việt Nam đã có các luật lệ đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và hợp lý hóa việc thành lập các đối thủ cạnh tranh tư nhân để cho phép tiến hành một số cải cách phù hợp.

Đến cuối năm 2008, gần 5.000 doanh nghiệp nhà nước được cơ cấu lại, trong đó 3.400 đã được cổ phần hoá, một từ mà chính phủ thích sử dụng khi nhắc đến các thành phần tư nhân tham gia mua cổ phần của doanh nghiệp nhà nước.

Nhưng nhà cầm quyền hiện nay lại thi hành pháp luật một cách tụt hậu và không phù hợp, ông Denny Cowger – một luật sư kinh doanh tại Duane Morris, một công ty luật Hoa Kỳ có văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội – cho biết.

Ví dụ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ban hành một chỉ thị yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước khổng lồ thực hiện cổ phần hóa vào tháng 7 năm 2010, nhưng nhiều doanh nghiệp chưa hoàn toàn đáp ứng và vẫn coi thường thời hạn này.

Các nhà lãnh đạo đã gửi một thông điệp rõ rệt cho Vinashin sau khi món nợ đáo hạn rằng: nhà nước sẽ không trả món nợ trị giá $600 triệu USD mặc các mối quan hệ chính trị chặt chẽ. Đây là một cách đảo ngược chính sách so với trước thời điểm mà chính phủ bán trái phiếu để nâng vốn cho tập đoàn này. Chính phủ cũng cảnh báo các doanh nghiệp nhà nước khác rằng họ phải có trách nhiệm đối với các khoản nợ mà họ vay, mặc dù điều đó có nghĩa chính phủ sẽ không trả món nợ mược từ châu Âu mà chính phủ đã từng lên tiếng ủng hộ trước đây.

Bằng cách thúc đẩy những cải tiến trong tính minh bạch và trách nhiệm, Hà Nội có thể theo bước của các cường quốc đi trước như Trung Quốc và Hàn Quốc, hoặc có thể rơi vào các nước có mức thu nhập trung bình hạn chế như Philippines và Malaysia.

Cho đến nay, các nhà lãnh đạo đã thành công trong việc đa dạng hóa chương trình thương mại tại Việt Nam, báo hiệu cho các nhà đầu tư biết rằng họ đang nhìn về hướng mà Trung Quốc và Hàn Quốc đã đi qua.

Nhưng trong năm nay, chính phủ cần tăng tốc độ cải cách các doanh nghiệp nhà nước nhằm ngăn chặn các cơn lạm phát trong tương lai cũng như ổn định lại nền kinh tế.

Một số các chính trị gia có thể cần phải hy sinh sức mạnh cá nhân của họ trong quá trình này – một thị trường cởi mở và sáng tạo thay vì phong kiến – sẽ giúp Việt Nam phát triển phồn vinh và thịnh vượng.

19.10.2011

© 2011 Bản tiếng Việt TCPT

Posted in: Kinh tế