Jonathan Pincus: Làm thể nào để tái cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam?

Posted on Tháng Mười Hai 10, 2011 bởi

1



Hồng Phúc chuyển ngữ
Jonathan Pincus
Chương trình Việt Nam, Harvard Kennedy School
Nguồn: Financial Times

Báo chí Việt Nam thường nói rất nhiều về các đề tài liên quan đến tái cấu trúc nền kinh tế. Giá lạm phát vượt quá 20%, tỷ lệ lãi suất cao, tiền tệ suy yếu và thương mại thâm hụt trầm trọng đã làm suy yếu niềm tin trong chiến lược phát triển của chính phủ, bao gồm các hỗn hợp liên quan đến tự do hóa thương mại nông nghiệp và lao động trong ngành công nghiệp chuyên ngành, cộng với trợ cấp và bảo vệ cho các công ty nhà nước.

Nhưng làm thế nào để Việt Nam thực sự thay đổi  hiệu quả?

Việc tìm kiếm một mô hình tăng trưởng mới đã chính thức được phê duyệt. Tháng trước, Thủ tướng Việt Nam  Nguyễn Tấn Dũng, một lần nữa kêu gọi các doanh nghiệp nhà nước tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi của họ và ra lệnh cho Bộ Tài chính công bố kết quả tài chính của các tổng công ty và các tập đoàn thuộc sở hữu nhà nước, được gọi là doanh nghiệp kinh tế nhà nước.

Tuy nhiên, tái cơ cấu kinh tế còn có nhiều ý nghĩa khác nhau đối với những người khác nhau.

Việc giải thích cơ bản nhất – và một trong những cách được ủng hộ bởi các nhà ngoại giao nước ngoài và các cơ quan quốc tế tại Hà Nội –  là Việt Nam cần phải định nghĩa lại vai trò của nhà nước, chủ yếu thông qua việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Hầu hết các nhà lãnh đạo Việt Nam không sẵn sàng để đi theo hướng đó. Họ thích áp đặt chặt chẽ hơn trong việc kiểm soát hành chính đối với chính quyền địa phương và các doanh nghiệp nhà nước, đồng thời giảm mức đầu tư công và thâm hụt tài chính.

Những cách tiếp cận đó đã đề ra các phương tiện khác nhau nhằm đạt được một mục tiêu chung: áp đặt kỷ luật đối với doanh nghiệp nhà nước và chính quyền địa phương.

Việt Nam đã thường xuyên đầu tư hơn 40% GDP, phần lớn vào các lĩnh vực đất đai cũng như tín dụng dành mà nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước, chính quyền địa phương dễ dàng tiếp cận. Việc này không chỉ dễ dàng trong việc tìm kiếm lợi nhuận một khi đất đai và vốn đầu tư quá rẻ hoặc đôi lúc lại miễn phí, nhưng mặt khác thu nhập lợi nhuận có thể không nằm ngay trong các mục đích chính. Khi mà các quan chức có một nhiệm kỳ chỉ vỏn vẹn năm năm hoặc ít hơn, thì việc kiếm được nhiều tiền tùy thuộc vào việc thực hiện các giao dịch và ký kết hợp đồng chứ không phải là các cam kết đầu tư dài hạn.

Vì vậy, tái cơ cấu lại nền kinh tế đã được bật đèn xanh nhằm giảm đầu tư công, hoặc ít nhất là đạt được các mối quan hệ chặt chẽ giữa đầu tư và lợi nhuận kinh tế. Chắc chắn rằng, Quốc hội vừa qua đã công bố giảm tỷ lệ đầu tư từ 42% xuống còn 35% GDP.

Người nước ngoài, tuy nhiên, ủng hộ cách sử dụng cạnh tranh thị trường để áp đặt kỷ luật đối với các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước. Bán cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước và buộc chính quyền địa phương đầu tư bằng doanh thu địa phương và doanh số trái phiếu sẽ làm giảm phạm vi cho vay vốn vì các động cơ chính trị.

Nhưng phương pháp này giả định rằng một nhóm các nhà đầu tư thực sự tin và có khả năng để mua các tài sản nhà nước và trái phiếu chính phủ. Nhà khoa học chính trị Martin Gainsborough thuộc Đại học Bristol đã lập luận rằng ngay cả trên danh nghĩa nhà đầu tư tư nhân tại Việt Nam cũng đã được liên kết với nhà nước bằng một số cách, ví dụ như thông qua các kết nối như đã từng làm trước đây bằng cách “cổ phần hóa” công ty nhà nước, ngân hàng thương mại nhà nước, các hợp đồng nhà nước hoặc các giao dịch đất đai. Để làm giảm tầm ảnh hưởng của nhà nước, việc tư nhân hóa đã mở rộng quyền lực nhà nước một cách gián tiếp bằng cách mở rộng mạng lưới kinh doanh liên kết với các thành phần có chân trong chính phủ.

Sự nổi lên của các tập đoàn “bán tư nhân” đã tích lũy được tài sản khổng lồ thông qua việc ủng hộ nhà nước trong việc giao dịch đất đai, tín dụng và kinh doanh, và hỗ trợ quan điểm cho rằng tư nhân hóa trong một đất nước mà khu vực tư nhân vẫn còn nhỏ và yếu là không thể tạo ra các kết quả như mong đợi.

Trong khi đó, chính phủ đã từ chối bán các cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước cho các nhà đầu tư nước ngoài, một chính sách mà trước đây rất phổ biến. Người Việt Nam có thể đã mất lòng tin đối với các doanh nghiệp nhà nước, nhưng điều đó không có nghĩa là họ hoàn toàn tin tưởng người nước ngoài.

Tiến bộ trong việc tăng hiệu quả đầu tư sẽ còn phụ thuộc chủ yếu vào khả năng của chính phủ gia tăng kỷ luật đối với các ngân hàng – không chỉ các ngân hàng thương mại nhà nước, mà còn “ngân hàng cổ phần”, trong đó có nhiều phần thuộc sở hữu của các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước.

Tái cơ cấu chỉ thực sự xảy ra khi các tính toán kinh tế được đặt trên các tính toán chính trị trong việc tạo dựng cơ sở để cho các ngân hàng vay vốn. Làm thế nào để đạt được sự thay đổi này vẫn là vấn đề cơ bản trong việc tái cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam.

© Bản tiếng Việt TCPT

Posted in: Kinh tế