Nhịp cầu thịnh vượng

Posted on Tháng Mười Hai 11, 2011 bởi

6



Đặng Khương chuyển ngữ
Nguồn: lanka business onlin

Phỏng vấn: Bài học cho Sri Lanka của Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang

Lanka Business Online (10 Tháng 12 năm 2011) –  Việt Nam là một đất nước đã bỏ lại phía sau cuộc nội chiến với sự tham gia của nước ngoài đầy cay đắng để trở thành một quốc gia phát triển nhanh và thu hút các đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu sau cuộc Đổi mới hay cải cách chính trị và kinh tế bắt đầu từ năm 1986.

Việt Nam đang xây dựng các nhịp cầu cả bên trong lẫn bên ngoài để nhanh chóng đưa đất nước bước vào sự thịnh vượng.

Trong năm 2010, Việt Nam với dân số 87 triệu người, đã nhận được 11 tỷ USD đầu tư từ nước ngoài. Các khoản đầu tư mới đăng ký là 18,5 tỷ USD. Trong sáu tháng đầu năm 2010, vốn đầu tư nước ngoài là 8.1 tỷ USD. Tỷ lệ thất nghiệp hiện nay khoảng hơn hai phần trăm và tỷ lệ nghèo đói đã giảm xuống còn mười phần trăm.

Hoa Kỳ, nước đã từng tham gia vào cuộc nội chiến tại Việt Nam, hiện nay trở thành một đối tác thương mại hàng đầu và nhà đầu tư lớn thứ bảy với 13 tỷ USD.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, một người miền Nam, đã có thời gian từng bị cầm tù bởi chính quyền miền Nam Việt Nam được Mỹ hậu thuẫn. Thành phố Hồ Chí Minh (trước đó là Sài Gòn), thành phố quê hương của ông nơi ông đã tham gia hoạch định phát triển các khu kinh tế đã nhận được nhiều đầu tư nước ngoài nhất, cho đến nay tổng cộng vốn đầu tư nước ngoài lên đến 30 tỷ USD.

Cuộc phỏng vấn này được sao chép từ số Tạp chí LBR mới nhất, Chủ tịch Trương Tấn Sang giải thích rằng ông hy vọng quan hệ Sri Lanka – Việt Nam sẽ mạnh mẽ hơn và chia sẻ rằng những vấn đề hòa giải, chính sách đối ngoại, ổn định kinh tế và bỏ lại phía sau quá khứ đã giúp Việt Nam khắc phục hậu quả cuộc chiến tranh khủng khiếp và hướng tới sự thịnh vượng.

Tổng thống Mahinda Rajapaksa đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại sân bay. Ảnh: VOV

LBR: Ông nhận định thế nào trong mối tăng cường quan hệ kinh tế giữa Sri Lanka và Việt Nam trong vài năm tới?

Trương Tấn Sang: Mối quan hệ giữa hai nước sẽ được tăng cường. Chính sách đối ngoại đã được thực hiện rất tốt và nó sẽ tiếp tục như vậy. Chúng tôi có niềm tin rằng chúng tôi sẽ làm việc chặt chẽ hơn trong quan hệ song phương và tại các diễn đàn quốc tế vì lợi ích của hai nước để có được hòa bình và ổn định trong khu vực và thế giới.

Về kinh tế, chúng tôi có tiềm năng lớn trong việc hợp tác thương mại và hợp tác đầu tư. Những nỗ lực đã được thực hiện trong quá khứ nhưng kết quả vẫn còn rất hạn chế so với tiềm năng to lớn của hai nước và mong muốn của các nhà lãnh đạo của hai nước. Tôi tin rằng với những nỗ lực của hai nước, chúng ta sẽ thấy một sự thay đổi đáng kể trong vài năm tới khi chúng tôi cố gắng đáp ứng mục tiêu một tỷ USD trong thương mại song phương và cố gắng giữ đà tăng trưởng.

Về đầu tư, chúng tôi thấy đầu tư hai chiều như Sri Lanka sẽ đầu tư vào Việt Nam và ngược lại với việc ký kết một số thỏa thuận cùng với sự chứng kiến ​​của hai vị tổng thống, bao gồm các thỏa thuận về dầu khí, nông nghiệp, thủy sản và một số các lĩnh vực khác. Chúng tôi cũng đã tăng cường hợp tác lẫn nhau trong một số lĩnh vực khác, ví dụ như giữa hai đảng, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam và đảng cầm quyền tại Sri-Lanka, và Đoàn Thanh niên Cộng sản Việt Nam và các tổ chức thanh niên quốc gia của bạn. Thế hệ trẻ sẽ hiểu và xây dựng trên truyền thống tốt đẹp đó và tình hữu nghị giữa hai nước. Sau đó sẽ tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ để Việt Nam và Sri Lanka tiếp tục là người bạn trung thành mãi mãi.

Giống như Sri Lanka, Việt Nam là một đất nước bị giày xéo bởi chiến tranh. Nhưng bây giờ đất nước đã được thống nhất không chỉ là một đơn vị chính trị, mà tất cả mọi người cảm thấy rằng họ thuộc về một đất nước Việt Nam.

LBR: Ông là người miền Nam, và là đã trở thành Chủ tịch nước. Ông có thể cho chúng tôi biết làm thế nào ông đạt được điều này?

Trương Tấn Sang: (Cười) Như Chủ tịch yêu quý của chúng tôi đã từng nói, đất nước  Việt Nam là một, cho dù sông có thể khô, núi có thể mòn, nhưng sự thật sẽ không bao giờ thay đổi.

Trong quá khứ trong thời kỳ phong kiến, Việt Nam đã bị phân chia và ngay cả trong kỷ nguyên hiện đại, đất nước cũng bị phân chia nhưng sự phân chia chỉ mang tính tạm thời. Ý chí của người dân Việt Nam là đất nước của chúng tôi là một và nó không thể tiếp tục bị phân chia nữa. Bản thân tôi là một miền Nam nhưng chúng tôi và miền Bắc là một với một sự thật rằng đất nước của chúng tôi luôn luôn phải được thống nhất. Vì vậy, khi đất nước bị xâm lược, tất cả mọi người đã đứng lại thành một trong cuộc chiến dành lại cho độc lập, tự do và tái thống nhất đất nước. Sau khi tái thống nhất đất nước đã đạt được, chúng tôi đã thông qua các chính sách hòa giải dân tộc và chúng tôi đã rất thành công trong vấn đề đó. Chúng tôi xây dựng một khối đại đoàn kết toàn dân tộc không phân biệt quá khứ, sự khác biệt và ý kiến. Chúng tôi phải luôn luôn nhìn về tương lai cho một Việt Nam hòa bình, tự do, dân chủ và phát triển. Với chính sách đó, sự khác biệt đã thu hẹp lại và tất cả chúng tôi đều có một mục tiêu chung, đó là cho một nước Việt Nam thống nhất hòa bình, thịnh vượng và phát triển. Như bạn thấy, sự phân chia chỉ là tạm thời nhưng một nước Việt Nam thống nhất là mãi mãi.

LBR: Chúng tôi nhín Việt Nam như là một đất nước đã phát triển tuyệt vời, đặc biệt là kể từ khi “Đổi mới” và nó đã trở thành một trong những điểm đến hàng đầu của thế giới trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài. Đất nước ông có thể đã xây dựng được cầu nối với mỗi quốc gia và đã giành được lòng tin của các nhà đầu tư, ngay cả từ các nước cựu thù. Chiến lược chính đằng sau thành công này là gì? Có phài là chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế?

Trương Tấn Sang: (Cười) Về mặt chính trị, chính sách của chúng tôi là đóng cánh cửa quá khứ và nhìn về tương lai. Đó là lý do tại sao Việt Nam có một số lượng bạn bè ngày càng tăng trên thế giới. Chính sách đối ngoại của chúng tôi là như vậy mà Việt Nam muốn là bạn, là đối tác đáng tin cậy đối với tất cả các nước trên thế giới để phát triển, hòa bình và hợp tác vì lợi ích của tất cả các quốc gia. Bây giờ chúng tôi có  thêm nhiều bạn mới, và rằng Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Trong tất cả các tổ chức – tổ chức quốc tế – mà Việt Nam là một thành viên, chúng tôi rất có trách nhiệm.

Đối với đầu tư nước ngoài, chúng tôi có đầu tư nước ngoài từ khoảng 100 quốc gia trên thế giới bao gồm cả các nước cựu thù. Bây giờ tất cả họ là bạn bè của Việt Nam và họ chia sẻ mong muốn Việt Nam phát triển và đó là lý do tại sao chúng tôi đã nhận được cam kết đầu tư nước ngoài 200 tỷ USD, trong đó có 100 tỷ USD đã được thực hiện rồi. Chính sách của chúng tôi là, các nhà đầu tư nước ngoài – không phân biệt quốc gia xuất xứ của họ – là một phần không thể tách rời của nền kinh tế Việt Nam. Thành công của họ cũng chính là thành công của chúng tôi, và ngược lại. Những thất bại của họ cũng là những thất bại của chúng tôi.

Bây giờ tôi nhắc đến yếu tố thứ hai là chính sách kinh tế. Trong bất kỳ sự phát triển nào, chính sách kinh tế là rất quan trọng. Để thu hút đầu tư nước ngoài, chúng tôi phải luôn luôn có một chính sách tự do và chúng tôi phải đảm bảo sự ổn định vĩ mô trong các chính sách kinh tế. Chúng tôi phải luôn luôn thực hiện các cam kết và hứa hẹn của chúng tôi đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Chúng tôi phải luôn luôn đảm bảo kinh doanh tự do và môi trường đầu tư để họ có thể đến đầu tư. Khi họ đến, chúng tôi phải đảm bảo đầu tư của họ có lợi nhuận và họ ở lại trong một thời gian dài. Đó là lý do tại sao họ tiếp tục đầu tư, ngay cả trong các lĩnh vực có nguy cơ cao. Trong ngắn hạn, không có sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước và trong một số lĩnh vực chúng tôi thậm chí còn cung cấp các ưu đãi thông qua khuyến khích đầu tư nước ngoài, đặc biệt là trong các lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước không có đủ khả năng.

LBR: Các khu vực ông nghĩ rằng Việt Nam thiếu khả năng và cần phải đầu tư thêm?

Như bạn đã biết, Việt Nam đã có những cải cách thành công trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hiện vẫn còn những lĩnh vực mà chúng tôi thiếu khả năng, ví dụ như công nghệ cao và đó là lý do tại sao chúng tôi phải đầu tư hàng trăm triệu đô la để thu hút các công ty khác. Trong ngắn hạn, có những lĩnh vực trong nền kinh tế mà các doanh nghiệp trong nước không có khả năng cung cấp và chúng tôi phải có các chính sách thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, và chúng tôi phải đầu tư một phần tài nguyên quốc gia để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và cho phép họ tiếp tục ở lại để đầu tư.

Chúng tôi cũng phải có chính sách về thuế để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và cho phép họ ở lại và chúng tôi cũng cần cung cấp nguồn nhân lực phù hợp, và chúng tôi cũng phải cung cấp cơ sở hạ tầng cần thiết để họ có thể đến và thiết lập công việc.

Trong lúc Sri Lanka là một người bạn thân, tôi có thể cho bạn biết rằng, các nhà lãnh đạo Việt Nam thường xuyên giữ liên lạc cũng như gặp gỡ các nhà đầu tư nước ngoài để họ thấy các cam kết chính trị của chúng tôi và họ có thể được đảm bảo khi đến Việt Nam để đầu tư.

LBR: Trong vùng Biển Đông [Biển Nam Trung Hoa], đất nước của ông đã phải đối mặt với các vấn đề đánh bắt cá và khai thác tài nguyên. Ông có thể cho chúng tôi biết vị trí của Việt Nam và kế hoạch giải quyết vấn đề Biển Đông như thế nào?

Trương Tấn Sang: Như bạn đã biết, Việt Nam là một đất nước đã bị xâu xé bởi chiến tranh. Đó là lý do tại sao bất cứ khi nào có một vấn đề gì thì chính sách của chúng tôi luôn luôn, rằng các vấn đề và các tranh chấp phải được giải quyết bằng thương lượng hòa bình và ngoại giao. Chúng tôi phản đối việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Đây là mục tiêu tổng thể của Việt Nam để xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, dân chủ và thịnh vượng.

Về tình hình ở Biển Đông, vị trí của Việt Nam đã được thực hiện rõ ràng với thế giới. Vị trí này đã được chia sẻ và đồng ý không chỉ bởi ASEAN mà còn có nhiều nước khác trên thế giới. Đó là, chúng tôi phải giải quyết tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, tuyên bố của các bên ở Biển Đông hoặc DOC. Chúng tôi đang chuyển hướng tới một bộ luật chung về cách cư xử hoặc COC để tất cả các nước đồng ý thương lượng nhằm giải quyết bất kỳ vấn đề gì liên quan đến Biển Đông.

© Bản tiếng Việt TCPT