Vì sao Trung Quốc thực hiện xóa đói giảm nghèo tốt hơn Ấn Độ?

Posted on Tháng Mười Hai 16, 2011 bởi

0



Phạm Gia Hưng (biên dịch)
TCPT số 6

“Tại tất cả các quốc gia đang phát triển, nghèo khó không còn là một “mỹ đức” nữa mà dường như đã trở thành một “tội ác” bị nhiều người ghét bỏ và muốn xa lánh”. Xóa đói giảm nghèo trở nên cấp thiết. “Chỉ nói riêng về hai quốc gia đang phát triển có dân số đông nhất và đông nhì thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ, cần nhìn nhận thế nào về thành tích xóa đói giảm nghèo của hai nước này? Con đường tương lai đang tiềm ẩn những trở ngại nào?”…

“Khi tôi là một người nghèo, tôi sẽ tùy tiện mắng rằng chỉ có sự giàu sang là tội ác duy nhất; nhưng nếu như có tiền rồi, tôi sẽ nói rằng điều tồi tệ nhất trên đời là nghèo khổ”. 400 năm sau ngày Shakespeare để nhân vật của mình nói câu nói trên, xã hội thương nghiệp bắt nguồn từ châu Âu đang vươn rộng ra qui mô toàn cầu, và hoàn toàn làm thay đổi diện mạo cũng như tâm thức xã hội của các quốc gia phương Đông.

Ở phía Bắc của dãy Himalaya, Trung Quốc, quốc gia có truyền thống tôn sùng “an bần lạc đạo” (vui với sự nghèo) và quốc gia đề xướng cách mạng “gian khổ giản dị” đang lùi xa dần. Người Trung Quốc hôm nay nổi tiếng thế giới bởi sự cuồng nhiệt theo đuổi các giá trị vật chất. Ở phía Nam của dãy Himalaya, người Ấn Độ dường như cũng thức tỉnh, không tiếp tục quá đắm chìm vào những suy tưởng tôn giáo cổ kính hàng ngàn năm, mà chuyển sang sùng bái “thần tài”. Nói rộng ra, tại tất cả các quốc gia đang phát triển, nghèo khó không còn là một “mỹ đức” nữa mà dường như đã trở thành một “tội ác” bị nhiều người ghét bỏ và muốn xa lánh.

Nhưng quá trình toàn cầu hóa hiện nay đang làm tăng thêm “tội ác” này, hay sẽ góp phần giảm thiểu nó? Toàn cầu hóa cần phải chịu trách nhiệm về “công xưởng máu và mồ hôi” đầy bi thảm do nó tạo ra, hay sẽ được người nghèo ở các nước đang phát triển và chậm phát triển tung hô vì đã khai mở một khung trời mới? Chỉ nói riêng về hai quốc gia đang phát triển có dân số đông nhất và đông nhì thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ, cần nhìn nhận thế nào về thành tích xóa đói giảm nghèo của hai nước này? Con đường tương lai đang tiềm ẩn những cạm bẫy nào?

Trước những vấn đề này, chúng tôi có cuộc phỏng vấn nhà Kinh tế học Phát triển nổi tiếng thế giới, ông Pranab Bardhan.

Toàn cầu hóa: Công và Tội

Báo Quan sát kinh tế (Báo): Mọi người hiện nay thường có những đánh giá khác nhau về toàn cầu hóa, xét về tổng thể, ông cho rằng toàn cầu hóa có lợi cho việc giảm thiểu đói nghèo trên thế giới hay không?

Pranab Bardhan: Toàn cầu hóa có những hàm nghĩa khác nhau, nếu hiểu “toàn cầu hóa” là sự mở rộng của mậu dịch đối ngoại và đầu tư ra phạm vi toàn thế giới, thì tất nhiên toàn cầu hóa có tác dụng quan trọng trong việc giảm đói nghèo. Nhưng trong một số tình huống khác, toàn cầu hóa chưa hẳn đã có thể phát huy vai trò này. Điều này được quyết định bởi cách hiểu của bạn về toàn cầu hóa như thế nào.

Báo: Mậu dịch đối ngoại và đầu tư phát huy tác dụng xóa đói giảm nghèo như thế nào trong quá trình toàn cầu hóa?

Pranab Bardhan: Quá trình toàn cầu hóa theo cách hiểu này có thể phát huy tác dụng xóa đói giảm nghèo bằng cách làm tăng cơ hội việc làm cho người nghèo ở các quốc gia đang phát triển. Trung Quốc là một ví dụ sinh động cho trường hợp này. Những năm gần đây, Trung Quốc có thể xuất khẩu hàng hóa sử dụng số lượng lao động cao cho thị trường thế giới. Những hàng hóa này tạo ra rất nhiều việc làm cho người lao động. Không chỉ những lao động thành thục tay nghề mà ngay cả những lao động bán thành thục hoặc mới vào nghề cũng có thể nắm bắt được cơ hội.

Điều đó có nghĩa là những người trước kia không có việc làm đã nhận được nhiều cơ hội hơn. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, toàn cầu hóa cũng cải thiện đáng kể tình hình của nữ giới., bởi lẽ những ngành sản xuất các sản phẩm cần số lượng lao động cao đã thuê rất nhiều nữ nhân công trẻ. Tôi có thể lấy Bangladesh làm ví dụ. Bangladesh nghèo hơn Trung Quốc rất nhiều, ngành may mặc phục vụ cho xuất khẩu của quốc gia đó đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho lao động nữ. Điều này không chỉ cải thiện đời sống kinh tế cho nữ giới mà còn góp phần nâng cao địa vị xã hội của họ. Trừ mậu dịch đối ngoại (ngoại thương) ra, các khoản đầu tư từ bên ngoài vào các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động cũng thúc đẩy xóa đói giảm nghèo, bởi những tiến bộ, cải tiến về kĩ thuật đến từ các hạng mục đầu tư này cũng tạo thêm nhiều cơ hội việc làm hơn.

Báo: Nhưng rất nhiều người nói về những mặt trái mà toàn cầu hóa đem lại.

Pranab Bardhan: Đúng vậy, trong một số trường hợp, toàn cầu hóa không nhất thiết giúp các quốc gia thực hiện xóa đói giảm nghèo. Tôi có thể lấy ví dụ từ một số quốc gia khác. Khi Trung Quốc, Bangladesh và Ấn Độ tăng lượng xuất khẩu vải vóc và hàng may mặc thì người lao động tại những quốc gia khác cũng xuất khẩu các sản phẩm ấy có thể sẽ bị mất việc làm, như tại Mexico, Columbia hay một số nước Mỹ Latinh khác. Những quốc gia này trước kia xuất khẩu sang châu Âu và Mỹ dạng sản phẩm sử dụng nhiều lao động, nhưng hiện nay đã kém thế trong quá trình cạnh tranh toàn cầu. Ích lợi mà người lao động ở Trung Quốc, Ấn Độ và Bangladesh nhận được, xét ở một góc độ nào đó chính là tổn thất, thiệt hại của người lao động ở Mexico, Columbia và một số nước Nam Mỹ khác. Nhưng đánh giá, ước lượng hai mặt Được – Mất thì toàn cầu hóa vẫn có tác dụng tích cực trong việc giảm đói nghèo. Nhiều quốc gia Mỹ Latinh không phải là những nước có thu nhập thấp mà là những nước có thu nhập bình quân theo đầu người ở mức trung bình. Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh vốn nghèo hơn những quốc gia Nam Mỹ này.

Vì thế, mới nảy sinh vấn đề tái điều chỉnh cơ cấu. “Tái điều chỉnh” có nghĩa là những nước mà sản phẩm đã mất đi tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế cần phải điều chỉnh lại chính sách kinh tế của mình, như thế sẽ có lợi hơn. Ngoài ra, ở những nước đang phát triển, việc mất đi nhiều việc làm trong một thời gian ngắn cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề.

Vì thế, câu trả lời của tôi cho vấn đề này là mậu dịch có thể cung cấp cơ hội mới cho một số người nghèo, nhưng đồng thời cũng có thể làm những người nghèo khác mất đi cơ hội.

Báo: Ông nói rằng chúng ta còn có thể có những cách hiểu khác về toàn cầu hóa.

Pranab Bardhan: Tất nhiên, ngoài những dạng toàn cầu hóa này ra, còn có những dạng thức toàn cầu hóa khác, chẳng hạn, toàn cầu hóa tài chính – tiền tệ, dạng thức này khác với toàn cầu hóa về đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là vốn tư bản dài hạn, còn toàn cầu hóa về tài chính – tiền tệ chỉ là sự lưu thông ngắn hạn của tư bản trên phạm vi toàn cầu. Trung Quốc, Ấn Độ đặt ra rất nhiều hạn chế đối với sự lưu động của dòng tư bản ngắn hạn này. Nhưng ngay cả ở những quốc gia không hạn chế nhiều cũng nảy sinh rất nhiều vấn đề.

Ví dụ điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á nổi tiếng năm 1997. Tại những nước Đông Nam Á như Indonesia, do sự “tháo chạy” ồ ạt của lượng tiền tệ, khiến tình trạng đói nghèo trở nên nghiêm trọng hơn. Dạng vốn ngắn hạn này đã làm hại rất nhiều người.

Do vậy, một lần nữa tôi muốn nhấn mạnh rằng, mấu chốt của vấn đề là chúng ta muốn nói đến dạng thức toàn cầu hóa nào. Nếu là toàn cầu hóa về tài chính – tiền tệ thì rất có thể dạng toàn cầu hóa sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.

Tất nhiên, vẫn còn rất nhiều dạng thức toàn cầu hóa có thể trợ giúp người nghèo, toàn cầu hóa về mặt quan niệm và khoa học kĩ thuật là những minh chứng điển hình. Ví dụ,người nghèo ở bất cứ đâu trên thế giới đều chịu nỗi khổ do tình trạng sức khỏe không được chăm sóc tốt, nhưng sự mở rộng của nền khoa học trong lĩnh vực y tế sẽ giúp ích cho nhiều người nghèo. Điều này có thể chẳng liên quan gì với mậu dịch và khoa học kĩ thuật, mà chỉ là sự truyền bá rộng hơn của quan niệm/niềm tin trên phạm vi toàn thế giới.

Báo: Lúc trước, ông có nhắc đến một số quốc gia chịu ảnh hưởng xấu của toàn cầu hóa, như Mexico, Columbia v.v… Theo quan điểm của ông, đó chỉ là do nền kinh tế của những quốc gia này đánh mất khả năng cạnh tranh, hay là còn do những nguyên nhân về mặt thể chế của các quốc gia ấy?

Pranab Bardhan: Như tôi đã đề cập tới, khi mậu dịch đối ngoại gặp phải vấn đề, các quốc gia kể trên cần phải điều chỉnh lại kết cấu kinh tế của mình. Trong quá trình điều chỉnh đó, một quốc gia có thể tiến hành sự chuyển dịch ngành từ ngành này sang ngành khác và chuyển dịch khu vực cho công nhân. Sự thành công của quá trình này, đặc biệt khi liên quan đến khía cạnh sáng tạo, phụ thuộc lớn vào thể chế của quốc gia đó.

Trước hết, tôi đưa ra ví dụ của nước giàu. Các nước giàu cũng thường xuyên gặp phải vấn đề này, tức trong quá trình toàn cầu hóa, một số ngành sẽ dần mất đi ưu thế, một số ngành sẽ được lợi, nhưng lại không thể tiến hành chuyển dịch ngành cho người lao động. Mỹ là quốc gia có rất nhiều người phản đối toàn cầu hóa, đó là vì sẽ có rất nhiều người mất việc làm nhưng lại không thể nắm bắt được cơ hội làm việc tại các ngành mới xuất hiện. Muốn thực hiện thành công quá trình điều chỉnh kết cấu ngành, cần phải có sự phối hợp của nhiều thể chế như: trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm y tế v.v… Nhưng nhiều người Mỹ không được hưởng chế độ bảo hiểm y tế tốt. Bên cạnh các thế chế đảm bảo xã hội, cần phải phát triển công tác bồi dưỡng, đào tạo, bởi người lao động muốn chuyển ngành thì cần phải được đào tạo một cách thích hợp. Vì thế, những quốc gia có đầy đủ hoặc đã phát triển mạnh các thể chế thiết yếu này thì càng nhanh chóng thích ứng với toàn cầu hóa, người dân các quốc gia đó cũng ít phản đối toàn cầu hóa hơn. Chẳng hạn, công nhân các quốc gia vùng Scandinavian như Thụy Điển, Na Uy, khác với công nhân Mỹ, họ không phản đối hay tẩy chay toàn cầu hóa.

Báo: Các nước nghèo cũng có tình trạng này?

Pranab Bardhan: Đúng vậy. Đa số các nước nghèo (gồm cả Trung Quốc) không có một hệ thống trợ giúp thất nghiệp và an sinh xã hội đủ mạnh, khiến cho quá trình điều chỉnh vấp phải rất nhiều khó khăn. Ngoài ra, còn quá nhiều rào cản đối với sự lưu chuyển của nguồn vốn, nhân lực, khoa học kĩ thuật v.v… Nếu bạn đang sống ở khu vực có kinh tế phồn vinh của Trung Quốc (như vùng duyên hải Quảng Đông), bạn có thể tìm kiếm nhiều việc làm hơn. Nhưng nếu tồn tại những rào cản trong việc lưu chuyển thì người nghèo sẽ khó tiếp cận các cơ hội này hơn.

Một dạng hạn chế khác là các chính sách của chính phủ, chẳng hạn như chế độ hộ khẩu của Trung Quốc. Tuy nhiên, hộ khẩu – một dạng hạn chế đối với sự lưu chuyển – đang ngày càng suy yếu và mất tác dụng. Bất luận thế nào, sự hạn chế mang tính vật chất hay chính sách đều là những nhân tố thể chế nội tại vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến thành công của công cuộc xóa đói giảm nghèo ở mỗi quốc gia.

So sánh Trung Quốc và Ấn Độ

Báo: Nhưng Trung Quốc cũng đạt được những thành tựu đáng kể trong việc xóa đói nghèo, ông cho rằng thành tích mà Trung Quốc đạt được chủ yếu là do đã đón nhận toàncầu hóa hay do Trung Quốc đã thực thi những chính sách bên trong đặc thù nhất định?

Pranab Bardhan: Tôi cho rằng, đó là kết quả tác động chung của cả hai yếu tố nêu trên. Hãy nhìn lại tình hình năm 1979 – 1980, Trung Quốc ngày đó bắt đầu những cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp, thực hiện chế độ khoán trách nhiệm đến hộ. Đánh giá tình hình quãng thời gian 25 năm kể từ mốc đó đến năm 2004 có thể nhận thấy thực ra một bộ phận không nhỏ những thành tích mà Trung Quốc đạt được trong khâu xóa đói giảm nghèo đã được thực hiện từ những năm 80 của thế kỷ trước, đặc biệt là trong 5 năm đầu tiên của 25 năm đó. Những thành tích này không phải là thành quả do toàn cầu hóa đem lại. Tôi cho rằng, thành tựu ấy bắt nguồn từ 3 nhân tố, mà cả 3 nhân tố đều không có chút quan hệ gì với việc cải thiện nông nghiệp.

Báo: Ông muốn nói đến 3 nhân tố nào vậy?

Pranab Bardhan: Đầu tiên là chế độ khoán trách nhiệm đến hộ , trong thập niên 80 của thế kỉ trước đã thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, đây là nguyên nhân chủ yếu làm dịu tình trạng đói nghèo.

Thứ hai, năm 1979 và 1980 Trung Quốc đã thực hiện chế độ phân phối ruộng đất rất bình đẳng, điều đó đã giúp ích cho nhiều người nghèo. Chính điều này đã tạo ra một mạng lưới an toàn và sự đảm bảo cơ bản cho nông nghiệp, vì mỗi nông hộ đều có đất canh tác, như vậy, họ không bị đẩy vào tình trạng vô cùng đói nghèo. Thứ ba, trong cùng thời gian đó, tức những năm đầu của thập niên 80, Trung Quốc đã có sự điều chỉnh nâng cao giá thu mua các sản phẩm nông nghiệp, điều này rõ ràng đem lại nhiều ích lợi cho nông dân. Cả ba nhân tố này đều không có bất cứ liên hệ nào với toàn cầu hóa mà chỉ hoàn toàn là các chính sách bên trong của Trung Quốc. Vì thế, thành tựu xóa đói giảm nghèo của thập niên 80 ở Trung Quốc có được là nhờ các chính sách đối nội.

Báo: Mặc dù vậy, phải chăng toàn cầu hóa trong quá trình xóa đói giảm nghèo này của Trung Quốc cũng phát huy một số tác dụng?

Pranab Bardhan: Tôi quan sát thấy, ở thập niên 80, thuế nhập khẩu của Trung Quốc khi đó ngày càng được hạ thấp, những hạn chế về nhập khẩu cũng ngày một giảm đi, nhưng biên độ vẫn rất nhỏ. Vì thế, nguyên nhân chủ yếu (tạo nên thành công của công cuộc xóa đói nghèo) khi đó không phải do toàn cầu hóa. Nhưng kể từ sau khi bước vào thập niên 90, đặc biệt là trong quãng thời gian 5-7 năm trước đây, lượng xuất khẩu các hàng hóa sử dụng nhiều lao động của Trung Quốc tăng mạnh. Mà như tôi đã nói, điều này đã tạo ra vô số cơ hội việc làm. Tôi nghĩ đây là một trong những thành quả của toàn cầu hóa, nó giúp ích cho nhiều lao động nghèo. Nhưng đồng thời tôi cũng vẫn cho rằng, nguyên nhân chủ yếu giúp Trung Quốc xóa đói giảm nghèo không phải là toàn cầu hóa.

Báo: Ông đánh giá thế nào về công tác xóa đói giảm nghèo của Trung Quốc và Ấn Độ? Vì sao trong lĩnh vực này Trung Quốc lại tỏ ra vượt trội hơn so với Ấn Độ?

Pranab Bardhan: Trước hết là vì tỉ lệ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc cao hơn Ấn Độ rất nhiều. Hiển nhiên là khi kinh tế tăng trưởng càng nhanh thì xóa đói giảm nghèo càng dễ dàng hơn. Nhưng ngoài nguyên nhân này, còn có một điều thường xuyên bị mọi người bỏ qua hoặc xem nhẹ.

Nếu khảo sát các số liệu kinh tế, bạn sẽ phát hiện ra rằng, khi nền kinh tế cùng tăng trưởng thêm 1%, hiệu quả xóa đói giảm nghèo đạt được ở Trung Quốc cao hơn gấp nhiều lần ở Ấn Độ.

Báo: Vì sao lại xuất hiện điều đó?

Pranab Bardhan: Điều này cần xét đến nhiều nguyên do.

Thứ nhất, so với quá trình công nghiệp hóa của Ấn Độ, mô hình công nghiệp hóa của Trung Quốc mang đậm đặc trưng của mô hình sử dụng nhiều lao động hơn. Xuất khẩu của Ấn Độ hiện nay vô cùng khả quan, nhưng các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu lại là các sản phẩm sử dụng hàm lượng vốn nhiều hoặc sử dụng hàm lượng kĩ thuật cao. Chẳng hạn như ngành công nghiệp phần mềm của Ấn Độ vô cùng phát triển, nhưng ngành này lại không thuê người nghèo, bởi lẽ người nghèo không có chuyên môn kĩ thuật.

Tương tự như vậy, ngành sản xuất dược phẩm của Ấn Độ hiện nay cũng rất thành công, nhưng chủ yếu chỉ thuê những lao động có chuyên môn khoa học và các chuyên môn khác chứ không thuê người nghèo. Các ngành sản xuất thường sử dụng nhiều lao động ở Ấn Độ không thật phát triển, đó là một trong những nguyên nhân khiến cho hiệu quả xóa đói giảm nghèo mà sự tăng trưởng kinh tế tạo ra của Ấn Độ không tốt bằng của Trung Quốc.

Nguyên nhân thứ hai là sự phân phối tài sản và một số nguồn lực khác ở Ấn Độ mang tính bất bình đẳng cao hơn Trung Quốc. Tài sản mà tôi nói đến ở đây gồm hai loại, loại thứ nhất là đất đai. Trong giai đoạn 1979-1980, Trung Quốc đã thực hiện phân phối khá bình đẳng về đất đai. Đếntận hôm nay, phân phối đất đai ở Trung Quốc vẫn bình đẳng hơn nhiều so với cách mà Ấn Độ thực hiện. Bạn hãy thử tưởng tượng, một nông dân không có đất canh tác của Ấn Độ nhất định sẽ ở vào tình trạng bi đát hơn một nông dân có đất canh tác của Trung Quốc, mà ở nông thôn Trung Quốc hầu hết các nông hộ đều có đất canh tác. Nông dân không đất canh tác Ấn Độ nếu không kiếm được việc làm sẽ vô cùng bi đát, bởi họ không được hưởng an sinh xã hội. Vì lẽ đó, sự phân phối đất đai bất bình đẳng khiến cho xóa đói nghèo ở Ấn Độ trở thành một nhiệm vụ cam go hơn rất nhiều.

Dạng tài sản thứ hai, có thể gọi là tài sản vô hình, đó chính là giáo dục. Những thành tựu mà Ấn Độ đạt được trong lĩnh vực phổ cập giáo dục thấp hơn nhiều so với Trung Quốc. Chẳng hạn, đến nay, đội ngũ lao động của Ấn Độ vẫn còn một lượng lớn mù chữ. Tầm quan trọng của giáo dục là ở chỗ trình độ giáo dục và trình độ kĩ thuật tương quan với nó quyết định việc bạn có dễ dàng thay đổi công việc hay không. Cơ hội việc làm dành cho người mù chữ rất ít. Người nghèo nếu không được hưởng nền giáo dục đầy đủ thì dù cho cơ hội việc làm mới có xuất hiện nhiều bao nhiêu, họ cũng không thể nắm bắt được.

Còn một nguyên do thứ ba, đó là không chỉ xét đến tình trạng đói nghèo do thu nhập thấp tạo ra, mà còn phải xem xét sự đói nghèo do tình trạng không có thu nhập gây ra. Ở đây, tôi muốn đặc biệt chỉ ra là lĩnh vực y tế và giáo dục. Tôi cho rằng, không chỉ 20 năm trước đây, mà 30-40 năm trước đây, những thành tựu Trung Quốc đạt được trong lĩnh vực giáo dục và y tế đều lớn hơn nhiều so với Ấn Độ. Ấn Độ có các nhà khoa học, những người được giải Nobel vô cùng nổi tiếng, nhưng tôi nói ở đây là người nghèo, tình cảnh của họ khổ hơn người nghèo của Trung Quốc gấp nhiều lần. Ví dụ, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh Ấn Độ cao hơn Trung Quốc, tuổi thọ bình quân thấp hơn Trung Quốc.

Vì thế, tình trạng nghèo đói của thành phần không có thu nhập ở Ấn Độ đặc biệt nổi cộm. Đương nhiên, nguyên do của tình trạng này phần nhiều bắt nguồn từ chính sách của chính phủ, tại rất nhiều địa phương, chính sách giáo dục, y tế của Ấn Độ đều không hiệu quả bằng Trung Quốc. Mặc dù thời gian gần đây, dịch vụ y tế công cộng tại một số làng quê của Trung Quốc ngày càng giảm sút, nhưng xét tổng thể, giáo dục và y tế của Ấn Độ vẫn kém hơn Trung Quốc nhiều.

Dân chủ và giảm đói nghèo

Báo: Nhưng Ấn Độ là một quốc gia dân chủ?

Pranab Bardhan: Đúng thế. Ở Ấn Độ, người dân có thể kháng nghị chính phủ, đồng thời trong khi bầu cử, người dân sẽ bỏ phiếu cho những nhà chính trị sẵn sàng giải quyết các vấn đề về giáo dục và y tế. Những vấn đề này không dễ giải quyết, mặc dù tình hình đã được cải thiện, nhưng tốc độ cải thiện vẫn quá chậm.

Báo: Xét từ góc độ kinh tế, ông cho rằng giữa Dân chủ và Xóa đói giảm nghèo có mối liên hệ nào không?

Pranab Bardhan: Có! Cá nhân tôi cho rằng dân chủ có giá trị quan trọng, vì nó có thể đem lại cho người dân bình thường những thứ cơ bản. Người dân thường ai ai cũng là “dân đen con đỏ”, nhưng ở những quốc gia dân chủ, họ được tôn trọng hơn, ít nhất là trong thời kì tuyển cử. Chính trị gia nếu muốn thắng cử đều phải biết cách làm hài lòng tầng lớp cử tri bình dân. Đi kèm với nó là trong chế độ dân chủ, người dân bình thường có vô vàn kênh kháng nghị. Nếu một chính sách nào đó của chính phủ gây thiệt hại cho người nghèo, họ có thể lập tức kháng nghị.

Ở Ấn Độ, mặc dù cũng thường hay xuất hiện cảnh người nghèo bị chết đói, nhưng dù cho chỉ có 2-3 người chết, người dân cũng lập tức phát động nhiều hình thức kháng nghị, tuần hành trên phố, điều đó sẽ nhanh chóng tạo ra ảnh hưởng đối với chính sách công cộng. Do vậy, tôi cho rằng dân chủ có thể ngăn ngừa một quốc gia lâm vào
những sai lầm tai hại.

Tôi còn có thể lấy một ví dụ khác. Sở dĩ Ấn Độ có phong trào bảo vệ môi trường với các hoạt động phản đối việc hủy hoại môi trường mang tính sâu rộng và mạnh mẽ, là vì người dân có thể nhanh chóng đề xuất ý kiến và các hành động kháng nghị. Ngoài ra, ở Ấn Độ, mặc dù cũng xuất hiện tình trạng thu hồi đất để phục vụ cho mục đích phát triển thương nghiệp, nhưng chính phủ Ấn Độ không thể nào làm quá mạnh tay, do hiện nay ở Ấn Độ liên tục có các phong trào kháng nghị.

Báo: Kháng nghị có lúc cũng tạo ra ảnh hưởng đối với công tác xóa đói giảm nghèo.

Pranab Bardhan: Tất nhiên, ở một mức độ nào đó, dân chủ có thể phá hỏng những nỗ lực xóa đói giảm nghèo. Giả sử bạn muốn sửa một đường cái lớn, việc sửa chữa này có lợi cho người nghèo. Ở một số quốc gia khác, việc này có thể nhanh chóng hoàn thành. Nhưng ở Ấn Độ, cho dù chính phủ đã quyết định là sẽ sửa đường, thì có thể vẫn sẽ có người phản đối. Đó chính là mặt trái của dân chủ.

Một ảnh hưởng khác của dân chủ là, ở các quốc gia dân chủ thường xuyên có việc các chính trị gia phải tiến hành nhiều công tác chuẩn bị trước khi bầu cử để đảm bảo sự thắng lợi của mình. Giả sử bạn là một nhà chính trị, mà sang năm đã tiến hành bầu cử, bạn biết có một chính sách trong tương lai xa có ích cho rất nhiều người nghèo, nhưng trong thời gian gần thì sẽ nảy sinh một số vấn đề và bạn phải đưa ra sự lựa chọn (có thực thi chính sách đó hay không). Trong trường hợp đó, thường thì bạn sẽ không lựa chọn, bởi thắng cử là việc trước mắt. Bạn phải dè chừng thái độ trong vòng một năm sau của cử tri đối với bạn, bởi lẽ bạn cần lá phiếu của họ, do đó bạn sẽ từ bỏ chính sách mà 10 năm sau sẽ đem lại lợi ích cho nhiều người dân.

Đó chính là thực trạng của “chủ nghĩa dân túy”: bạn chỉ quan tâm đến những sự kiện trước mắt, chứ không phải là các khoản đầu tư dài hạn. Đây là vấn đề mà hiện nay Ấn Độ thường xuyên gặp phải, cũng là một ảnh hưởng khác của dân chủ.

Báo: Ông cho rằng ngoài ra còn có vấn đề nào khác không?

Pranab Bardhan: Tôi cho rằng nền dân chủ của Ấn Độ còn có một nhược điểm và một ưu điểm. Ở Trung Quốc, chính phủ có thể tiến hành nhiều thử nghiệm, ví dụ, chế độ trách nhiệm khoán đến hộ năm xưa không phải ngay lập tức áp dụng trong phạm vi toàn Trung Quốc mà trước hết được thí điểm ở một số tỉnh, một vài khu vực.

Khi nhận thấy mô hình thí điểm thành công thì sẽ nhân rộng ra. Sự phát triển của mô hình xí nghiệp hương trấn của Trung Quốc cũng vậy. Nhưng ở Ấn Độ, việc tiến hành thí điểm như vậy khó khăn hơn rất nhiều. Bởi một số thí điểm sẽ thành công, còn một số sẽ thất bại, nhưng khi mới bắt đầu bạn không thể nào biết trước được sẽ thành công hay sẽ vấp phải thất bại. Nếu như thí điểm thất bại, tôi nghĩ chính phủ Trung Quốc sẽ nhanh chóng từ bỏ chính sách đó. Nhưng đối với Ấn Độ, khi chính phủ bắt đầu thực thi một chính sách nào đó, sẽ đem lại cơ hội việc làm cho một số người, nhưng nếu chính sách thất bại, việc xóa bỏ chính sách ấy sẽ khó khăn bởi lẽ nó khiến những lao động kia mất việc, họ sẽ biểu tình phản đối. Do vậy, ở Ấn Độ thường xuyên xuất hiện tình trạng một chính sách nào đó không đem lại hiệu quả, nhưng chính phủ do lo ngại dân chúng biểu tình phản đối đành phải miễn cưỡng duy trì chính sách đó.

Báo: Thế còn ưu điểm mà ông đề cập đến là gì?

Pranab Bardhan: Bạn biết đối với bất cứ quốc gia nào có diện tích rộng lớn như Trung Quốc và Ấn Độ, đặc biệt là trong thời kì kinh tế tăng trưởng với tốc độ nhanh, đều khó lòng tránh khỏi việc nảy sinh những xung đột, như chênh lệch giàu nghèo bị nới rộng, áp lực với các vấn đề môi trường tăng lên v.v… Những xung đột trong tương lai sẽ còn nhiều lên. Khi đối mặt với những xung đột ấy, đối phó thế nào, làm sao để các bên từng bước giải quyết xung đột thông qua con đường hiệp nghị, tôi cho rằng trong chế độ dân chủ đều có thể giải quyết dễ dàng hơn.

Báo: Tại sao vậy?

Pranab Bardhan: Ở Ấn Độ, rất nhiều người sẽ kháng nghị, mà bản thân kháng nghị là một dạng “van an toàn”.

Người dân phẫn nộ ra phố biểu tình, nhưng sẽ có người đối thoại với họ, các nhà chính trị sẽ khuyên nhủ họ, nghị viện sẽ họp để thảo luận. Thông qua các cuộc đối thoại liên tục, cuối cùng sẽ có một phương án giải quyết mà các bên đều thấy thỏa đáng. Điều này cần nhiều thời gian, nhưng cuối cùng khiến xung đột được giải quyết, xử lí triệt để hơn. Vì thế, dân chủ cung cấp một cơ chế xử lí xung đột hữu hiệu hơn.

© 2007 TCPT số 6

_______

1. Là một trong những hình thức phân phối theo lao động, áp dụng cho những hộ nông; là một biểu hiện của sự xóa bỏ thể chế phân phối bình quân kiểu cũ. Với chế độ này, nông dân làm được nhiều thì hưởng nhiều, làm được ít thì hưởng ít.

2. Pranab Bardhan sinh tại Ấn Độ, nhận bằng Tiến sĩ Kinh tế học của Đại học Cambridge (Anh), hiện là giáo sư kinh tế học, giảng dạy tại phân hiệu Berkeley của Đại học California (Mỹ). Ông từng là chủ biên của tờ “Tạp chí Kinh tế học Phát triển” đầy uy tín, trong 18 năm. Ông viết hơn 10 cuốn sách nổi tiếng, nội dung liên quan đến các lĩnh vực như: mậu dịch quốc tế, lí luận tăng trưởng, vấn đề nghèo đói và phân phối thu nhập, chính sách và quy hoạch phát triển, vấn đề nông nghiệp, kinh tế học định chế và phân tích kinh tế chính trị v.v…

6

Download TCPT số 6

Posted in: Chính trị