Các nền kinh tế Đông Dương đang trên đường cải cách và tự do hóa

Posted on Tháng Mười Hai 26, 2011 bởi

4



Đỗ Đăng Khoa chuyển ngữ
John Loh, Malaysia Star

Trong nhiều hướng khác nhau, khu vực Đông Dương bao gồm Việt Nam, Campuchia, Lào, và Miến Điện là những nước đang có xu hướng phát triển rất mạnh.

Khu vực này đã bi tàn phá bởi các cuộc nội chiến, quân phiệt, và xã hội chủ nghĩa trong nhiều thập kỷ, và trong một thời gian rất dài đã bị thế giới bỏ rơi về mặt chính trị và kinh tế; và sự bất ổn định tại đây đã gây trở ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài và phát triển kinh tế.

Nhưng các nước này, dẫn đầu bởi Việt Nam, trong thời gian qua đã lặng lẽ quay trở lại với sân khấu thế giới. Tổng sản lượng (GDP) trong nước của Việt Nam đã có mức tăng trưởng 8% hàng năm từ năm 1990 đến 1997, và sau đó ổn định ở mức 7% từ năm 2000 đến 2005, và đã giúp đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới.

Các cơ sở thấp kém, tất nhiên, là một trong những lý do kìm hãm các nước này. Tuy nhiên, trong tâm trí tưởng tượng của chúng ta thì Đông Dương vẫn còn bị lấn át bởi hai cường quốc láng giềng là Trung Quốc và Ấn Độ, và vấn đề suy thoái, nợ nần của cả Hoa Kỳ và châu Âu.

Tuy nhiên, nếu một trong những nước này biết nắm lấy cơ hội, thì khu vực này đáng để chúng ta chú ý tới. Hiện nay, cải cách và tự do hóa đang được tiến thành, và Đông Dương đang ở điểm đỉnh của nhiều thay đổi.

Trong cuối tuần vừa qua tại Naypyidaw, thủ đô mới của Miến Điện, Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra đã kết thúc cuộc hội nghị thượng đỉnh Greater Mekong Subregion Summit lần thứ tư, kèm theo các đề nghị và hiệp ước mở rộng hợp tác kinh tế của họ trong khu vực.

Được thành lập vào năm 1992 với sự trợ giúp của Ngân hàng Phát triển châu Á, tiểu vùng Mekong bao gồm Trung Quốc, Campuchia, Lào, Miến Điện, Việt Nam, và Thái Lan nơi mà các nước này cùng sử dụng dòng sông Cửu Long. Mục đích của sự kết hợp này là để tăng cường hội nhập kinh tế của khu vực.

Một chiến lược 10 năm từ 2012 đến 2022 cũng đã được thông qua tại hội nghị, thiết lập tám lĩnh vực rộng lớn để hợp tác trong đó bao gồm phát triển kinh tế, liên kết các cơ sở hạ tầng, năng lượng, nông nghiệp, và môi trường.

Mặt khác, khu vực này cũng còn nhiều hạn chế như cơ cấu chính trị bảo thủ, nạn tham nhũng tràn lan, và ở một số nơi, tỷ lệ lạm phát vẫn còn rất cao.

Trong bài viết này, StarBizWeek nhìn lại tình trạng ở bốn quốc gia ở Đông Dương và phân tích xem họ có thể làm gì để tiến lên phía trước.

Miến Điện

Có lẽ là sự kiện quan trọng nhất đã diễn ra tại Miến Điện trong năm nay là chuyến thăm của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton. Tháng trước, bà đã trở thành Ngoại trưởng đầu tiên của Hoa Kỳ thực hiện chuyến thăm đến vương quốc ẩn dật này trong hơn 50 năm qua.

Miến Điện trước đây là thuộc địa cũ của Anh Quốc, đã bị rơi vào tay chính quyền quân sự vào năm 1962, và từ đó đã đưa nước này vào một “thời kỳ loạn lạc”. Trước đây Miến Điện là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới và là quốc gia giàu thứ hai ở khu vực Đông Nam Á dưới sự cai trị của người Anh, trước khi chế độ quân phiệt dẫn dắt quốc gia thịnh vượng này vào tình trạng đổ nát.

Hệ thống y tế của nước này được xếp hạng một trong những nước tồi tệ nhất trên thế giới, và tăng trưởng GDP chỉ ở khoảng 3%, thấp nhất trong khu vực châu Á.

Nổi tiếng là nước vi phạm nhân quyền, cùng với lao động trẻ em và nạn buôn bán người, Miến Điện đã bị Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU) và Canada trừng phạt nghiêm ngặt.

Đề án được gọi là Con đường Miến Điện tiến lên Chủ nghĩa Xã hội (Burmese Way to Socialism) được giới thiệu vào những năm đầu thập niên 1960 và hợp lý hóa tất cả các ngành trừ ngành nông nghiệp, đã dẫn đến các kết quả tai hại nặng nề. Các kế hoạch này tiếp tục đưa đất nước vào sự khốn khổn và nghèo nàn, buộc Liên hiệp Quốc đặt Miến Điện vào bảng “Quốc gia kém phát triển” năm 1987.

Nhưng cuối cùng chính quyền quân phiệt đã có một sự thay đổi, và vào năm 2003, họ đã vẽ lên một lộ trình dân chủ. Như là một phần của kế hoạch, Miến Điện đã tổ chức một cuộc tổng tuyển cử vào tháng Mười năm ngoái, và một chính phủ dân sự đầu tiên đã được thành lập, bất chấp các nhà quan sát quốc tế tuyên bố đó cuộc bầu cử gian lận và không hợp lý.

Mặc dù không có dấu hiệu rằng các nước phương Tây sẽ giảm nhẹ các hình thức trừng phạt, nhưng tờ Wall Street Journal gần đây đã viết rằng quốc gia 54 triệu dân này có thể mang lại nhiều cơ hội cho các doanh nhân Hoa Kỳ.

Một báo cáo khác của Wall Street Journal ghi chú rằng các lãnh đạo cao cấp của Miến Điện, những người đã nhận được các hợp đồng béo bở để đổi lại sự tồn tại của chế độ, thì họ lại là người ủng hộ cải cách mạnh mẽ nhất.

Một doanh nhân trong ngành xây dựng và khai thác mỏ Zaw Zaw cho biết ông đã bỏ nhiều thời gian để vận động hành lang đối với Hoa Kỳ và EU nhằm yêu cầu họ giảm các biện pháp trừng phạt và cho phép Miến Điện cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu, thay vì phải dựa vào Trung Quốc.

Chính phủ dân sự mới có vẻ như cũng đang nhượng bộ một phần, vì vậy đến nay họ đã phá vỡ một số các quy chế, tổ chức các cuộc thảo luận với phe đối lập và thậm chí loại bỏ một dự án thủy điện trị giá 3.6 tỷ USD do Bắc Kinh tài trợ.

Lào

Nước cộng sản Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào với dân số khoảng 7 triệu người, cũng vừa bắt đầu khởi động sàn giao dịch chứng khoán của họ vào tháng Giêng vừa qua.

Theo hãng thông tấn Reuters, thì sàn giao dịch chứng khoán của Lào là một liên doanh trị giá 20 triệu USD cùng với với sàn chứng khoán Hàn Quốc, trở thành thị trường chứng khoán thứ tư ở châu Á. Thị trường này dự kiến ​​sẽ niêm yết vào năm tới bao gồm một nhà máy bia, hãng hàng không quốc gia, các nhà cung cấp viễn thông, và các công ty tinh bột sắn.

Nhiều khu vực mua sắm, quán cà phê với Wifi và các tiện nghi hiện đại bắt đầu mọc lên như nấm tại Viêng Chăn, thủ đô nước Lào, và đây là các dấu hiệu của sự giàu có ngày càng tăng trong khu vực thuộc địa cũ của Pháp.

GDP của Lào đã tăng ở mức khoảng 6% từ năm 1988 đến 2006, và gần 8% kể từ đó. Một số dự báo cho rằng tăng trưởng trong năm nay sẽ ở giữa mức 8,1% và 8,6%, đưa quốc gia này trở thành một trong các nước châu Á có mức tăng trưởng cao nhất.

Mặc dù nền kinh tế trị giá khoảng 7.5 tỷ USD là tương đối nhỏ, nhưng con số này cùng với GDP bình quân đầu người đã tăng hơn gấp đôi từ năm 2006, chủ yếu nhờ vào sản xuất thủy điện, khai thác đồng và mỏ vàng, du lịch, và các nguồn tiêu thụ nội địa.

Khai thác mỏ và thủy điện đã mang về hơn 80% vốn đầu tư nước ngoài và góp vào một nửa thu nhập của GDP của nước này. Nửa còn lại đến từ ngành nông nghiệp như gạo, gòn, ngô, và khoai tây. Ngành nông nghiệp cũng đã chiếm một phần lớn cung cấp các công ăn việc làm cho người dân tại đây.

Với vô số các tuyến đường thủy tại đây, chính phủ Lào đã cho phép xây dựng hàng chục đập thủy điện mới, và họ mong muốn sẽ trở thành “nước cung cấp điện lực cho Đông Nam Á” với khả năng cung cấp điện lên đến 8% vào năm 2025.

Hiện nay, số lượng lớn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Lào đến từ Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam, nhưng nền kinh tế lại tiếp tục bị ngăn cản bởi các quy định yếu kém, lực lượng lao động kém tay nghề cao, và mối quan hệ chặt chẽ giữa giới kinh doanh và thành phần chính trị ưu tú, trong đó đều là những điều mà các công ty phương Tây không ưa chuộng.

Campuchia

Mặc dù bị ảnh hưởng bởi lũ lụt nặng nề trong hơn một thập kỷ qua, Thủ tướng Campuchia Hun Sen cho biết hồi tuần trước rằng nền kinh tế nước này vẫn có thể tăng trưởng ở mức 7% trong năm nay. Ngược lại, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã điều chỉnh và giảm dự báo tăng trưởng của Camphuchia còn lại ở mức từ 6% đến 6,7%.

Lũ lụt trong tháng Tám và tháng Chín vừa qua đã giết chết hơn 250 người và tàn phá gần 10% đồng ruộng của Campuchia.

Ông Hun Sen, người đã nắm quyền trong hơn 25 năm tại đây và cũng là người nắm chính quyền lâu nhất trong khu vực Đông Nam Á, thừa nhận rằng mặc dù ngành nông nghiệp sẽ không có tăng trưởng, nhưng nền kinh tế vẫn có thể tăng nhờ vào xuất khẩu các mặt hàng may mặc, công nghiệp xây dựng và du lịch. Đây cũng được cho là các ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ nhất của nước này.

Những người đã đến thăm Campuchia và thăm “Killing Fields” khét tiếng chắc hẳn còn nhớ thời kỳ mà chế độ Khmer Đỏ đã sử dụng bạo lực để tàn sát hàng triệu người vô tội.

Nhưng nền kinh tế tại đây đã bắt đầu tăng trở lại, với chỉ số GDP tăng hơn 7% từ năm 2001 đến 2010.

Với dân số khoảng 15 người, trong đó hơn một nửa dưới 21 tuổi, Campuchia là một trong những nước nghèo nhất thế giới, đồng thời cũng là nước nhận tiền viện trợ đáng kể nhất. Ngân hàng Phát triển Châu Á và ngay cả Trung Quốc là hai trong các nguồn cung cấp tiền viện trợ nhiều nhất. Ngoài ra, Trung Quốc cũng là nước có nguồn đầu từ nước ngoài lớn nhất ở Campuchia.

Chất xúc tác của nền kinh tế Campuchia là nhờ vào các phát hiện dầu và khí đốt ở vùng biển lân cận vào năm 2005. Khi khai thác thương mại và dầu khí ở đây được tiến hành vào năm 2013, chắc chắn một số lượng tiền đáng kể dự kiến ​​sẽ được chảy vào kho bạc của họ.

Thách thức chính của Campuchia là thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân để họ có đủ công ăn việc làm nhằm đáp ứng lực lượng lao động hùng mạnh. Bên cạnh đó, những thách thức khác mà Campuchia phải đối mặt là nạn tham nhũng trong chính phủ và bất ổn chính trị.

Việt Nam

Việt Nam là ở một nơi hoàn toàn khác với so với các nước láng giềng. Việt Nam từng được cho là thị trường mới nổi tại Châu Á, có mức tăng trưởng kinh tế ổn định kể từ những năm 1990 và hưởng được một “thời gian vàng” trước khi cuộc suy thoái bắt đầu hồi năm 2008.

Theo một số dự tính, Việt Nam có thể sẽ trở thành một trong các nước có mức phát triển nhanh nhất trong các nền kinh tế mới nổi của thế giới vào năm 2025. Câu chuyện tăng trưởng của họ bắt đầu từ thời kỳ Đổi mới vào năm 1986, thông qua các chính sách thị trường tự do với mục đích tạo ra một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chương trình cải cách đã khuyến khích quyền sở hữu tư nhân trong các ngành công nghiệp, và ở thời điểm cao nhất, Việt Nam đã có vốn đầu tư nước ngoài và bình quân đầu người cao nhất so với bất kỳ quốc gia nào khác trong khu vực.

Ngày nay, xuất khẩu hạt điều và hạt tiêu đen của Việt Nam đã chiếm một phần ba thị phần toàn cầu, và là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai chỉ sau Thái Lan. Với các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Việt Nam cũng được xếp là nước xuất khẩu dầu khí lớn thứ ba trong khu vực Đông Nam Á.

Việt Nam cũng đã thành công trong việc xóa giảm nạn nghèo đói và thất nghiệp, tất nhiên điều này không dễ dàng chút nào trong một quốc gia có đến 90 triệu dân số. Nhưng sau các phát triển mạnh mẽ này thì các nhà quan sát nói rằng Việt Nam đang bắt đầu mất đi thời kỳ huy hoàng của họ.

Tổng nguồn vốn FDI mà Việt Nam nhận được trong năm 2011, phần lớn được đầu tư vào các ngành sản xuất và giáo dục, đã giảm rất nhiều so với năm ngoái. Trong 11 tháng đầu tiên, Việt Nam chỉ thu được 12.7 tỷ USD vốn FDI, giảm 20% so với cùng kỳ năm ngoái.

Hơn nữa, thương mại và thâm hụt ngân sách đã trở nên tồi tệ hơn bởi giá trị tiền đồng sụt giảm và mất giá 8% so với đồng đô la Mỹ trong năm nay. Trong năm 2010, tiền đồng cũng đã bị phá giá đến ba lần.

Một vấn nạn giải khác mà Việt Nam phải đối mặt là lạm phát dai dẳng, đứng ở mức 20% trong nhiều tháng nay. Các số liệu mới nhất cho thấy rằng lạm phát đã chậm lại trong ba tháng liên tiếp trong tháng Mười một năm nay ở mức 19,83%.

Một nhà phân tích ngân hàng có nhiều kinh nghiệm làm việc tại Việt Nam cho StarBizWeek biết rằng vì Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa, nên công nhân ở đây luôn tổ chức các cuộc đình công quy mô lớn. “Các công đoàn lao động ở đây cũng rất mạnh, và vì tiền lương không thể tăng nhanh để theo kịp với mức lạm phát, nên các cuộc biểu tình thường xuyên diễn ra. Và tất nhiên năng suất đã bị ảnh hưởng trầm trọng.”

Trong khi đó, nhà phân tích cũng đã chứng kiến ​​thị trường chứng khoán của Việt Nam đã sụt giảm đến 80% xuống còn 200 điểm từ mức 1.000 điểm. Lạm phát và lãi suất cao đã dẫn đến các cuộc bán tháo của các nhà đầu tư nước ngoài, dẫn đến tình trạng hoảng loạn đối với các nhà đầu tư nội địa.

Hơn nữa, Việt Nam lại sa lầy vào nạn quan liêu và tham nhũng. “Ở Trung Quốc, tham nhũng thường xảy ra ở các cấp cao, nhưng tại Việt Nam, tệ nạn tham nhũng có mặt hầu như trong toàn bộ hệ thống. Chi phí cho các ông chủ chưa hẳn đã đủ mà các cấp bên dưới cũng phải được nhận tiền lại quả”, một nhà phân tích giải thích.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang trên đà cải cách, bắt đầu từ việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tương tự như các công ty liên kết của chính phủ Malaysia.

Trong vòng bốn năm, hơn 2.000 doanh nghiệp nhà nước trong đó bao gồm các tập đoàn lớn, đã được giảm xuống chỉ còn lại 692 doanh nghiệp, trong đó có các ngành công nghiệp vận chuyển, khai thác mỏ, và dầu khí. Tuy nhiên, chính phủ sẽ giữ lại khoảng 70% cổ phần trong các doanh nghiệp này.

Ngành ngân hàng cũng cần phải được cải cách toàn diện. Sau nhiều năm chỉ số tín dụng tăng vọt, các ngân hàng hiện nay đang gánh nặng một số lượng lớn các món nợ xấu, và AFP cho biết con số này có thể lên đến 10% tài sản của họ.

Việt Nam có khoảng 100 ngân hàng thuộc sử hữu nhà nước, tư nhân hoặc nước ngoài nhưng đa số trong số họ đang trong tình trạng thiếu tiền mặt trầm trọng. Theo ngân hàng trung ương cho biết thì các khoản vay đến nay đã vượt lên 244% GDP trong tháng Chín.

Để khắc phục điều này, chính phủ có kế hoạch giảm số ngân hàng đang hoạt động hiện nay xuống còn một nửa vào năm 2015, và hy vọng sẽ tạo ra hai hoặc ba ngân hàng lớn trong khu vực.

© Bản tiếng Việt TCPT

johnloh@thestar.com.my

Advertisements
Posted in: Kinh tế