Thị trường: Nền kinh tế tự nhiên và hợp lý nhất

Posted on Tháng Mười Hai 30, 2011 bởi

0



Hoàng Xuân Ba
TCPT số 9

Toàn bộ hệ thống của nền kinh tế thị trường hoạt động không cần sự cưỡng chế hay sự hướng dẫn tập trung của bất kỳ một “bộ óc chỉ huy vĩ đại” nào đó của Chính phủ. Những chính sách kinh tế áp đặt, chỉ huy, duy ý chí sẽ luôn tạo ra những phản ứng ngược của thị trường và do đó làm méo mó hình dạng của thị trường. Là một nước đang phát triển, để đẩy mạnh việc tăng tốc kinh tế, chính phủ Việt Nam cần phải để thị trường hoạt động tự do.

Trật tự kinh tế chứ không phải sự hỗn độn

Thật dễ dàng khi quan sát sự vận hành trơn tru của nền kinh tế. Khi bạn đến siêu thị Metro ở Việt Nam, những thứ mà bạn muốn mua – bánh mì, thịt, gà, chuối, v.v – đều đã nằm trên giá. Bạn trả tiền, mang chúng về, chế biến và thế là có được một bữa ăn ngon lành. Còn gì đơn giản và tuyệt vời hơn thế nữa?

Mặc dù vậy, nếu bạn quan sát kỹ hơn, bạn sẽ bắt đầu nhận ra: để có được hàng hóa trên giá, cần có một mạng lưới chằng chịt các hoạt động kinh tế. Thực phẩm có thể phải trải qua 5 hay 10 khâu trước khi đến tay bạn, phải mất nhiều ngày hoặc nhiều tháng để đến từ khắp các tỉnh, thành phố và thậm chí khắp mọi nơi trên trái đất (nếu bạn ăn đồ nhập khẩu – bò Úc, trâu Ấn Độ, nho Mỹ – chẳng hạn nó phải trải qua một dây chuyền gồm nông dân, người chế biến nông sản, người đóng gói, người chuyên chở, người bán buôn và bán lẻ.

Khối lượng cũng thật kinh ngạc, hàng triệu tấn gạo, hàng triệu con gà… tất cả đều được đáp ứng đầy đủ và kịp thời. Gần như một điều kỳ diệu khi thấy thực phẩm đã được sản xuất với mức sản lượng phù hợp, được chuyên chở đến đúng chỗ và xuất hiện thơm ngon trên các bàn ăn.

Nhưng có một điều kỳ diệu thực sự là toàn bộ hệ thống này hoạt động không cần sự cưỡng chế hay sự hướng dẫn tập trung của bất kỳ một “bộ óc chỉ huy vĩ đại” hay một ủy ban kế hoạch và đầu tư của chính phủ. Trái lại, hàng triệu doanh nghiệp và người tiêu dùng đang tham gia vào các vụ mua bán tự nguyện, và hành động hay mục đích của họ rõ ràng là có sự phối hợp với hệ thống giá cả và thị trường. Không có ai quyết định xem cần sản xuất bao nhiêu con gà, xe tải phải chuyên chở đến đâu, cần mở các siêu thị ở đâu. Thế nhưng, cuối cùng thì thực phẩm vẫn có mặt trong cửa hàng khi bạn cần chúng.

Không chỉ đúng với thực phẩm: thị trường hoạt động kỳ diệu tương tự như vậy xung quanh chúng ta và vào bất kỳ lúc nào. Chỉ cần chú ý quan sát cẩn thận nền kinh tế của chúng ta: Hàng nghìn loại hàng hóa được hàng triệu người sản xuất một cách tự giác mà không cần bất kỳ sự hướng dẫn tập trung hay một kế hoạch tổng thể nào. Thực vậy, chỉ trừ một số ngoại lệ quan trọng – quân đội, cảnh sát, trường học, y tế – hầu hết cuộc sống kinh tế thường ngày của chúng ta được triển khai mà không cần sự can thiệp của chính phủ – và đó là sức mạnh thực sự của nền kinh tế thị trường.

Cơ chế thị trường

Nền kinh tế thị trường là một cơ chế tinh vi để phối hợp mọi người, mọi hoạt động và mọi doanh nghiệp thông qua hệ thống giá cả và thị trường. Nó là một phương tiện giao tiếp để tập hợp tri thức và hành động của hàng triệu cá nhân khác nhau. Không có một bộ não hay hệ thống tính toán trung tâm, nhưng nó vẫn giải quyết được những vấn đề sản xuất và phân phối bao gồm hàng triệu ẩn số và mối tương quan mà không ai biết; những vấn đề ấy dù cho những siêu máy tính nhanh nhất ngày nay cũng không thể làm nổi. Chẳng có ai thiết kế ra thị trường, nhưng nó vẫn vận hành rất tốt. Trong nền kinh tế thị trường, không có một cá nhân hay tổ chức đơn lẻ nào có trách nhiệm sản xuất, tiêu dùng, phân phối hay định giá.

Vậy làm thế nào thị trường có thể xác định được giá, lương và sản lượng? Ban đầu, thị trường là một địa điểm thực sự mà tại đó, người mua và người bán cùng tham gia vào việc mặc cả tay đôi trực tiếp. Chợ – với ê hề những bao gạo, gà, cá tươi, và hàng đống rau quả – vốn đã từng là địa điểm rất quen thuộc đối với nhiều làng quê và trị trấn, là nơi những người nông dân mang hàng hóa của họ đến bán. Ngày nay, thậm chí ở Mỹ vẫn còn có rất nhiều loại chợ quan trọng mà tại đó những người buôn bán tụ họp nhau lại ở một địa điểm duy nhất để trao đổi. Thí dụ, lúa mì và ngô được buôn bán ở một địa điểm duy nhất để trao đổi, như lúa mì và ngô được buôn bán tại Sở Thương mại Chicago (Chicago Board of Trade), xăng dầu và bạch kim tại Sở Chứng khoán Thương mại New York (New York Mercantile Exchange), còn đá quý thì tại Quận Kim cương (Diamond District) của thành phố New York.

Tổng quát hơn, nên hiểu thị trường như một cơ chế trong đó người mua và người bán có thể xác định giá cả và trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Thị trường tồn tại với hầu hết mọi thứ, từ các tác phẩm nghệ thuật đến đồ phế thải (hay những loại có khả năng tái chế, nhưng chúng thường được gọi), tất cả những thứ có người bán và có người mua thì đều tạo thành một thị trường mua bán.

Thị trường có thể tập trung, như thị trường chứng khoán, cũng có thể phi tập trung, như thị trường nhà cửa hay lao động. Hoặc nó có thể chỉ tồn tại qua các thiết bị điện tử như trong trường hợp nhiều loại tài sản và dịch vụ tài chính vốn chỉ được trao đổi qua máy tính. Điểm đặc thù nhất của thị trường là nó đưa người mua và người bán đến với nhau để xác định giá cả và sản lượng.

Tóm tắt một cách ngắn gọn và đầy đủ thì thị trường là một cơ chế trong đó người mua và người bán tương tác với nhau để xác định giá cả và sản lượng của hàng hóa hay dịch vụ.

Trong hệ thống thị trường, mọi thứ đều có giá cả, đó là giá trị của hàng hóa và dịch vụ được tính bằng tiền. Giá cả thể hiện mức mà mọi người và các hãng tự nguyện trao đổi nhiều loại hàng hóa với nhau. Khi tôi đồng ý mua một chiếc xe Ford cũ từ người bán với giá 4.050 đôla, điều đó có nghĩa là chiếc xe Ford đó đáng giá hơn 4.050 đôla đối với tôi và 4.050 đôla đó lại lớn hơn giá trị của chiếc Ford đối với người bán. Thị trường xe ô tô cũ đã xác định giá
của chiếc xe Ford cũ đó, và thông qua việc mua bán tự nguyện, đã đưa hàng hóa này đến với người và mà với họ, nó được đánh giá cao nhất

Hơn nữa giá cả hoạt động như một tín hiệu đối với người sản xuất và tiêu dùng. Nếu người tiêu dùng muốn mua nhiều hàng hóa nào đó hơn nữa, thì giá sẽ tăng và nó phát tín hiệu cho người bán rằng cần cung nhiều hơn. Thí dụ, cứ đến mùa hè, khi các gia đình đi nghỉ, cầu về xăng sẽ tăng, và do đó giá xăng cũng tăng. Điều này sẽ khuyến khích các công ty xăng dầu tăng mức sản xuất xăng, nhưng nó cũng sẽ không khuyến khích khách lữ hành kéo dài quãng đường đi của họ. Mặt khác, nếu một hàng hóa như ô tô chẳng hạn, tồn kho quá nhiều, thì những nhà buôn và công ty sản xuất ô tô sẽ giảm giá để giảm bớt lượng tồn kho. Với mức giá thấp hơn, nhiều người tiêu dùng muốn có ô tô hơn, và người sản xuất lại muốn sản xuất ít hơn. Kết quả là, sự cân bằng giữa người mua và người bán sẽ được duy trì.

Những gì đúng với thị trường hàng tiêu dùng thì cũng đúng với thị trường về các yếu tố sản xuất như đất đai hoặc lao động. Nếu có nhu cầu thêm về các chuyên gia lập trình máy tính chứ không phải là công nhân trong các nhà máy thì cơ hội tìm kiếm việc làm trong lĩnh vực máy tính sẽ có nhiều thuận lợi hơn. Giá của các chuyên viên lập trình (tức tiền công giờ của họ) sẽ có xu hướng tăng lên, còn tiền công của công nhân nhà máy sẽ có xu hướng giảm xuống, hiện tượng này đã xảy ra vào những năm 1980. Sự thay đổi trong mức lương tương đối sẽ thu hút người lao động vào các ngành nghề đang tăng trưởng.

Đó là điều đã xảy ra trong ngành hộ lý ở Mỹ và các nước phát triển. Vào những năm 1980, sự lớn mạnh của ngành y tế của Mỹ đã dẫn đến sự mở rộng ghê gớm của công việc hộ lý, vượt xa số lượng hộ lý được đào tạo cho ngành này. Các bệnh viện đã đưa ra rất nhiều bổng lộc để thu hút hộ lý, kể cả cho các căn hộ được bao cấp, được gửi trẻ gần nhà với giá rẻ, có thể được thưởng tới 10.000$. Có bệnh viện thậm chí còn quay xổ số cho các hộ lý mà giải thưởng là một phiếu mua hàng tại cửa hàng gần đó. Nhưng cái thu hút nhiều người vào ngành hộ lý là mức lương đang tăng lên. Trong khoảng những năm 1983 đến 1992, lương trả cho hộ lý có đăng ký đã tăng gần 70%, do đó, hộ lý có thể kiếm được nhiều tiền tương đương với một nhân viên kế toán hay một kiến trúc sư trung bình. Việc tăng tiền lương đã thu hút đủ số người vào ngành hộ lý nên đến năm 1992, hiện tượng thiếu hộ lý đã được giải quyết trên hầu hết các miền đất nước.

Ở Việt Nam, cũng vào những vào năm 1980, tình trạng thiếu giáo viên xuất hiện và ngày càng nghiêm trọng hơn. Lý do chính yếu là vì đồng lương giáo viên thấp, học phí đại học cao, dẫn tới việc các thí sinh dự thi đại học có tâm lý “chuyện chạy cùng sào mới vào sư phạm”, điểm chuẩn của trường Đại học Sư phạm luôn thấp hơn các trường Bách Khoa, thậm chí Kinh tế. Để khắc phục tình trạng đó, Bộ Giáo dục ban hành đã quyết định miễn học phí cho các sinh viên trường Sư phạm. Điều này đã khuyến khích các học sinh nghèo thi vào Sư phạm, năm đầu tiên áp dụng quy định trên số lượng thí sinh đăng ký thi vào trường Đại học Sư phạm tăng lên rõ rệt kéo theo điểm chuẩn của trường Đại học Sư phạm tăng lên. Những năm tiếp theo số lượng thí sinh thi vào Sư phạm cũng như điểm chuẩn của trường Sư phạm liên tục tăng lên. Đại học Sư phạm trở thành một trường “danh giá”.

Sự sôi động của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay tạo ra một nhu cầu về nguồn nhân lực làm việc trong các công ty chứng khoán. Chính lý do đó đã tạo ra một sự cạnh tranh trong việc “săn đầu người”, đặc biệt là nhân viên môi giới làm mức lương trung bình của các nhân viên môi giới tăng lên. Các thí sinh dự thi vào kinh tế, đặc biệt là ngành Tài chính – Tiền tệ tăng vọt bởi sức thu hút của ngành tài chính, đặc biệt là chứng khoán.

Cân bằng thị trường

Điều gì giúp thị trường hoạt động ổn định và cân bằng? Đó chính là nhờ giá cả. Giá cả sẽ kết hợp các quyết định của người sản xuất và người tiêu dùng trên thị trường. Giá tăng lên sẽ làm giảm lượng mua sắm của người tiêu dùng và khuyến khích sản xuất. Giá hạ xuống sẽ khuyến khích tiêu dùng và không khuyến khích sản xuất. Giá cả là quả cân trong cơ chế thị trường.

Tại mọi thời điểm, một người này bán còn một số khác mua; các hãng sáng chế ra sản phẩm mới, còn chính phủ lại thông qua các luật lệ để điều tiết sản phẩm cũ; các công ty nước ngoài khai trương các nhà máy ở Mỹ, trong khi các công ty Mỹ lại bán sản phẩm của họ ra nước ngoài. Nhưng ở trung tâm điểm của những sự rắc rối đó, thị trường vẫn kiên định giải quyết các vấn đề cái gì, như thế nào và cho ai. Khi cần đối tất cả các lực lượng hoạt động trong nền kinh tế, thị trường sẽ tìm ra sự cân bằng cung cầu.

Cân bằng thị trường thể hiện sự cân bằng giữa tất cả các người mua và người bán khác nhau. Các gia đình và các hãng đều muốn mua hoặc bán một mức sản lượng nhất định tùy thuộc vào bia. Thị trường tìm ra giá cân bằng, đồng thời thỏa mãn nhu cầu của người mua lẫn người bán. Giá quá cao có nghĩa là sẽ ứ đọng hàng hóa vì sản lượng sản xuất ra quá nhiều, giá quá thấp sẽ gây ra hiện tượng xếp hàng dài trước các cửa hàng và thiếu hụt hàng hóa. Giá mà ở đó, mức người mua muốn mua cũng là mức người bán muốn bán là sự cân bằng giữa cung và cầu.

Một thị trường hoạt động tốt là một thị trường dựa trên sự cân bằng giữa cung và cầu. Để có thể làm được điều đó thì nhà nước phải để cho “bàn tay vô hình” của thị trường hoạt động hiệu quả. Những chính sách kinh tế áp đặt, chỉ huy, duy ý chí sẽ luôn tạo ra những phản ứng ngược của thị trường và do đó làm méo mó hình dạng của thị trường.

Là một nước đang phát triển, để đẩy mạnh việc tăng tốc kinh tế chính phủ Việt Nam cần phải để thị trường hoạt động tự do. Những chính sách vĩ mô nhưng lại can thiệp rất sâu vào nền kinh tế, cùng những biện pháp hành chính mang tính chất ép buộc sẽ làm cho thị trường trở nên kém hiệu quả đi.

(Bài viết có tham khảo các giáo trình về kinh tế học)

© 2007 TCPT

S

Download TCPT số 9

Posted in: Kinh tế