Phân tích: Tập Cận Bình sang Việt Nam với nỗ lực hòa giải?

Posted on Tháng Mười Hai 31, 2011 bởi

1



Nguyên Ân chuyển ngữ
Amruta Karambelkar

Nguồn: SEARP – IPCS

Tập Cận Bình, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã có chuyến thăm chính thức đến Việt Nam từ ngày 20-22 tháng 12 năm 2011 vừa qua. Ông đã gặp Chủ tịch nước Trương Tấn San, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và một số quan chức cấp cao khác. Nhưng Trung Quốc và Việt Nam mong đợi gì trong chuyến thăm cao cấp này? Phải chăng Trung Quốc đang cố gắng hàn gắn mối quan hệ với Việt Nam? Nếu vậy thì Việt Nam có đáp ứng tích cực không?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Phó Chủ tịch Tập Cận Bình ngày 22/12 tại Hà Nội. Ảnh: Cổng TTĐT Chính phủ

Trong chuyến thăm vừa qua, Trung Quốc đã đặt trọng tâm vào việc tăng cường mối quan hệ chiến lược với Việt Nam. Họ hứa hẹn sẽ viện trợ kinh tế, gia tăng thương mại song phương và hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, các vấn đề thanh niên và sức khoẻ. Phó Chủ tịch Tập Cận Bình nói rằng quan hệ Việt-Trung mang tầm chiến lược quan trọng lớn cho cả hai nước tại thời điểm này. Ông hy vọng rằng mối quan hệ sẽ tiếp tục sâu sắc thêm theo phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.” Ông Tập Cận Bình cũng hy vọng rằng hệ tư tưởng chung của hai nước sẽ giúp nâng cao quan hệ đối tác chiến lược này lên một tầm cao mới. Cả hai bên nhất trí tăng cường các chuyến thăm cấp cao và duy trì hợp tác chặt chẽ. Một phái đoàn thanh niên cộng sản Trung Quốc cùng lúc cũng đã thăm Việt Nam. Lãnh đạo của cả hai bên hoan nghênh vai trò của thanh niên trong việc tăng cường tình hữu nghị giữa hai nước.

Việt Nam sẽ nhận được các khoản tín dụng ưu đãi trị giá 300 triệu USD từ Trung Quốc để phát triển cơ sở hạ tầng và các lĩnh vực khác. Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (China Development Bank) đã ký một thỏa thuận với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), trong đó cho phía Việt Nam vay 200 triệu USD trong khoảng thời gian là năm năm. Ông Tập Cận Bình hy vọng thương mại song phương sẽ đạt lên 60 tỷ USD vào năm 2015.

Động thái này của phía Trung Quốc đặc biệt hết sức quan trọng. Thứ nhất, việc này xảy ra khi nền kinh tế của Việt Nam đang suy nhược, với tỷ lệ lạm phát lên đến 20% và thị trường nội địa đang mất dần sức hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài. Sự hỗ trợ tài chính của Trung Quốc trong lúc này là một nhu cầu nghiêm trọng, vì không có quốc gia nào khác đứng ra giải cứu nền kinh tế tai ương của Việt Nam. Động thái này tất nhiên là một chiến lược được tính toán kỹ lưỡng, trong tháng Mười, thương mại song phương nhắm đạt lên mức 25 tỷ USD, nhưng hai tháng sau đó, mục tiêu này đã tăng lên gấp đôi. Trung Quốc đã chứng minh rằng họ có một nền kinh tế có thể đến để giải cứu các nước láng giềng nếu các nước này gắp khủng hoảng.

Còn các vấn đề ở Biển Đông, hai bên đã đồng ý giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình, bằng cách tôn trọng các mối quan tâm hợp pháp của cả hai nước trên cơ sở luật pháp quốc tế, (UNCLOS 1982) và tinh thần của Tuyên bố Ứng xử trên Biển Đông (và thực hiện các thỏa thuận trên nguyên tắc cơ bản hướng dẫn giải quyết tranh chấp hàng hải). Đó là các quyết định nhằm hướng dẫn các quan chức chính phủ thực hiện nghiêm chỉnh các đồng thuận mà lãnh đạo của cả hai nước đã đồng ý trong chuyến thăm của ông Nguyễn Phú Trọng sang Trung Quốc hồi tháng Mười vừa qua. Chuyến đi của ông Tập Cận Bình cũng không có gì mới và cụ thể về vấn đề này.

Chuyến đi này về mặt thời điểm thì lại mang ý nghĩa rất quan trọng. Quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam đã căng thẳng trong thời gian gần đây xung quanh việc tranh chấp ở Biển Đông. Trung Quốc hiện nay đang cố gắng vươn ra các nước láng giềng nhằm ‘tăng cường các hợp tác phức tạp và thay đổi tình hình quốc tế’. Họ thực hiện việc này bằng chiến lược ‘củ cà rốt’ với sự hỗ trợ kinh tế. Ngược lại, họ có thể xem xét lại chính sách này thay vào đó bằng ‘cây gậy’ đối với các nước láng giềng.

Chuyến thăm thể hiện nỗ lực trong việc dành lại sự kiểm soát tầm ảnh hưởng trong khu vực của Trung Quốc. Hiện nay, mức phát triển và cấu hình đã và đang xảy ra ở khu vực Biển Đông có vẻ như là một cảnh báo đối Bắc Kinh. Trung Quốc đang vươn ra các nước láng giềng với từng nước một, với hy vọng thực hiện đàm phán song phương – điều mà họ luôn luôn mong muốn. Trong một viễn cảnh lớn hơn, chiến lược này dường như để đối phó lại với sự hiện diện của Mỹ ở châu Á. Điều này có thể đạt được bằng cách đưa các nước thành viên ASEAN riêng lẻ về bên cạnh họ. Trung Quốc đang sử dụng kỹ năng quyền lực mềm của mình để làm sống lại mối quan hệ với Việt Nam. Trong chuyến thăm này, Tập Cận Bình đã ca ngợi chủ nghĩa xã hội và mối quan hệ lịch sử với Việt Nam. Cách hùng biện của ông Tập Cận Bình là hai nước có “hệ thống chính trị tương tự, do đó mục tiêu chính trị cũng tương tự”.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hội kiến với Phó Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình. Ảnh: giaoduc.net.vn

Việt Nam cũng lặp lại quan điểm này của ông Tập Cận Bình. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói rằng Việt Nam nhìn vào Trung Quốc như một người bạn tuyệt vời, điều mà lâu nay Việt Nam đã luôn tin tưởng. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì cam kết sẽ làm sâu sắc thêm mối quan hệ “vô giá” của hai nước bằng cách tham gia vào tất cả các lĩnh vực và “giáo dục các thế hệ trẻ về tình láng giềng hữu nghị và hỗ trợ lẫn nhau”. Với kiện viện trợ khổng lồ của Trung Quốc, Việt Nam đã dường như không thảo luận nội dung tranh chấp Biển Đông hay đưa ra bất kỳ một kết quả cứng rắn nào.

Việt Nam rất biết cân bằng các mối quan hệ của họ. Sau các loạt tranh chấp ở Biển Đông trong thời gian gần đây, một mặt có các điểm cho thấy Việt Nam tìm kiếm sự hỗ trợ của Mỹ và Ấn Độ nhằm tăng cường quân sự của mình; trong khi đó thì họ lại muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ với Trung Quốc. Hành vi này của Việt Nam đối với Trung Quốc (và các nước khác như Mỹ và Ấn Độ) sẽ còn tùy thuộc vào chính sách “cây gậy hay củ cà rốt” của Trung Quốc. Khi Trung Quốc trở nên ngang ngược, Việt Nam quay sang tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nguồn khác. Tương tự, họ nghiêng sang phía Trung Quốc với củ cà rốt nếu điều ngược lại có xảy ra đối với các nước khác. Điều này cho thấy rằng Việt Nam cần cẩn thận để không phá vỡ mối quan hệ với Trung Quốc trong bối cảnh khu vực Đông Nam Á đang mở ra các hướng phát triển và cấu hình mới.

A.K. – amrutak@gmail.com
Ngày 29 tháng 12 năm 2011

© Bản tiếng Việt TCPT

Posted in: Chính trị