Việt Nam và Ấn Độ hợp tác để đối mặt với Trung Quốc

Posted on Tháng Một 8, 2012 bởi

1



Đặng Khương chuyển ngữ
Maher Sattar, Asia Sentinel

Khi sức mạnh của Mỹ suy yếu và sức mạnh của Trung Quốc gia tăng, thì các quốc gia lân cận khác bắt đầu tìm kiếm đồng minh.

Khi sức mạnh và vai trò của Mỹ suy giảm và căng thẳng trong khu vực châu Á bắt đầu gia tăng, Việt Nam đã bắt đầu ngó quanh nhằm tìm kiếm các đồng minh tiềm năng để đối mặt với quyền bá chủ của Trung Quốc trong khu vực. Trong khi đó, Ấn Độ cùng với mối quan tâm chiến lược về Bắc Kinh, cũng đang nổi lên như là một nước có nhiều tiềm năng và đối tác quan trọng trong vùng.

Sự cấp thiết trong việc tìm kiếm đồng minh mới của Việt Nam đã trở cần thiết sau khi các tàu hải quân Trung Quốc cắt cáp hai tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam vào tháng Năm và tháng Sáu năm 2011 khi đang hoạt động trong vùng biển mà Việt Nam xem là vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Nam Trung Hoa – còn được gọi là Biển Đông. Vụ việc đã châm ngòi cho hàng chục cuộc biểu tình diễn ra tại hai thành phố lớn của Việt Nam – và đây cũng là điều hiếm có ở đất nước được điều hành bởi một chế độ hà khắc và ít khi cho phép các cuộc biểu tình diễn ra dưới bất kỳ hình thức nào. Tổng cộng có hơn mười một cuộc biểu tình chống Trung Quốc đã diễn ra giữa tháng Sáu và tháng Tám năm 2011.

“Đó là một cú sốc lớn về mặt cơ bản và đã huy động rất nhiều ý kiến ​​công chúng ở Việt Nam trong việc chống lại Trung Quốc. Nó cũng buộc một số các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự của Việt Nam nói rõ ràng lập trường của họ về vấn đề Biển Đông, và làm thế nào để đối phó với Trung Quốc liên quan đến vấn đề đó”, ông David Koh, chuyên gia về chính trị và xã hội dân sự chuyên về Việt Nam tại Viện Đông Nam Á cho biết.

“Ban đầu thì các cuộc biểu tình có vẻ như phục vụ mục đích của chính phủ bởi vì họ ra hiệu cho Trung Quốc rằng sự quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông đã phản tác dụng đối với mối quan hệ song phương giữa hai nước”, ông Carlyle Thayer, giáo sư chính trị chuyên về Việt Nam tại Đại học New South Wales nói.

Tuy nhiên, những biểu hiện hiếm gặp của công chúng cuối cùng đã bị chặn lại bằng vũ lực. “Khi các cuộc biểu tình tiếp tục diễn ra, họ đã trở thành một trách nhiệm về mặt ngoại giao của chính phủ Việt Nam đối với Trung Quốc,” Thayer nói.

Thực tế là Việt Nam không thể đủ khả năng để thúc đẩy Trung Quốc quá xa trong chuyện này vì sự bất đối xứng trong mối quan hệ của họ. “Tôi đã gọi đây là sự chuyên chế về địa lý,” ông Thayer nó , “Việt Nam không thể chọn người hàng xóm của họ. Tại Việt Nam hiện nay có khoảng 89 triệu dân và là quốc gia đông dân thứ 12 trên thế giới, nhưng đối với Trung Quốc thì Việt Nam chỉ bằng một tỉnh của họ. Chính phủ Việt Nam được phân chia thành các nhóm giữa những người hiểu được rằng họ cần phải hành động với sự thận trọng đối với Trung Quốc và những người muốn nhìn thấy Việt Nam có một lập trường cứng rắn hơn.”

Thay vì trực tiếp làm mếch lòng Trung Quốc, Việt Nam đã lựa chọn tìm sự hỗ trợ của các nước khác. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á trong tháng Mười một năm 2011 vừa qua, các nước trong khu vực đã cùng với Hoa Kỳ lên tiếng yêu cầu tranh chấp ở Biển Đông nên giải quyết theo cách đa phương, thay vì song phương như Trung Quốc đã từng đề nghị.

“Hình thức quyết đoán ở Biển Đông và Biển Hoa Đông không chỉ giới hạn đối với Việt Nam. Đây là một phần trong sự quyết đoán rộng lớn hơn được đưa ra từ phía Trung Quốc. Vấn đề này là đã tất cả các nước có chung đường biên giới đất liền và hàng hải với Trung Quốc rất quan ngại. Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á đã lên tiếng rõ ràng với Trung Quốc rằng họ không có thể tiếp cận vấn đề này theo cách song phương, mà cần phải được đa phương hóa,” ông Gopalapuram Parthasarathy, cựu Đại sứ Ấn Độ tại Myanmar nhấn mạnh.

Như một dấu hiệu cho thấy tầm quan trọng của vấn đề, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đã mời quan giới chức quân sự hàng đầu của Myanmar là Tướng Min Aung Hlaing, đến thăm Việt Nam trong chuyến đi đầu tiên của ông ra nước ngoài trong tháng Mười một vừa qua. Điều này cũng chứng minh rằng Tướng Min Aung Hlaing rõ ràng đã không chọn Trung Quốc như người tiền nhiệm của ông đã từng làm. Mặc dù không có thông báo chi tiết về chuyến đi, nhưng các quan sát viên quân sự nói rằng chuyến thăm của Tướng Min Aung Hlaing đến Việt Nam nhằm tăng cường hợp tác song phương giữa hai nước, cũng như báo hiệu một nỗ lực trong việc giảm bớt sự ảnh hưởng chặc chẽ của Trung Quốc đối với Miến Điện.

“Trung Quốc nhận ra rằng Ấn Độ là một trong số các quốc gia lo ngại sâu sắc về sự quyết đoán của họ trong vấn đề ở Biển Đông, và e ngại rằng một liên minh chống Trung Quốc có thể sẽ xuất hiện,” ông Thayer nói.

Ấn Độ vẫn là một đối tác quan trọng mới đối Việt Nam. Chủ tịch Việt Nam là Trương Tấn Sang, đã đến thăm Ấn Độ lần đầu tiên trong tháng Mười vừa qua. “Đó là một chuyến thăm quan trọng và tôi nghĩ rằng thời gian của chuyến thăm cũng khá tình cờ. Ấn Độ vẫn là một trong những nước mạnh mẽ ở phía tây lục địa châu Á đối Việt Nam,” ông Koh cho biết.

Việt Nam đã tìm cách hợp tác với Ấn Độ dưới các hình thức như đào tạo quân sự, vì cả hai nước đều sử dụng rộng rãi các thiết bị do Nga chế tạo. Họ cũng dự kiến ​​sẽ mua thêm tàu ngầm và hy vọng sẽ có được sự chấp thuận để mua tên lửa chống tàu từ đất liền ở Nam Á.

Đổi lại, Ấn Độ được tham gia vào công cuộc tìm kiềm dầu mỏ ở ngoài khơi Việt Nam, và có lẽ quan trọng hơn là hải quân của họ được sử dụng cảng biển tại Nha Trang, một điều có thể dẫn đến sự hiện diện đáng kể của hải quân Ấn Độ trong vùng Biển Đông.

Khu vực Biển Đông đóng một vai trò quan trọng trong các chiến lược của Ấn Độ. Như cựu đại sứ Parthasarathy đã chỉ ra, 40% thương mại của Ấn Độ với Mỹ đều phải đi qua vùng biển Nam và Đông của Trung Quốc, cũng như hai trong số các đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ là Hàn Quốc và Nhật Bản.

Cuối cùng là dầu khí. “Mọi người đều được lợi từ việc thăm dò dầu khí. Trung Quốc không thể ra lệnh cho chúng tôi hay cấm chúng tôi tìm kiếm dầu khí,” Parthasarathy nói.

Nền dân chủ lớn nhất trên thế giới này dường như đã vơ được miếng thịt bò đáng kể với đối tác cộng sản Việt Nam. Hiện nay vẫn Ấn Độ và Trung Quốc vẫn còn tranh chấp lãnh thổ trên dải biên giới đất liền được chia sẻ bởi hai nước láng giềng. Đối với Ấn Độ, điều họ đang lo lắng nhất là tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc, và sự xâm nhập của Trung Quốc vào Ấn Độ Dương. Gần đây, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng các cảng ở Sri Lanka và Miến Điện.

Trung Quốc cũng được gọi là “người bạn trong mọi thời tiết” đối với nước đối thủ của Ấn Độ là Pakistan, nước được Bắc Kinh xem là nơi để chặn đứng tham vọng của New Delhi ở khu vực Trung Á.

Các nhà phân tích cảnh báo rằng Trung Quốc sẽ cẩn thận hơn khi Ấn Độ đi sâu vào sân sau của họ. “Trung Quốc sẽ có lợi gì nếu hải quân Ấn Độ ã thường xuyên đưa hoạt động của họ vào khu vực Biển Đông?” Koh thử đặt vấn đề.

“Mối tiêu cực đối với Trung Quốc đã xảy ra rồi, chứ không là sắp xảy ra. Điều này thiết lập sự hiện diện của lực lượng hải quân trong khu vực đang được tranh chấp,” ông Bharat Karnad, cựu thành viên của Hội đồng An ninh Quốc gia của Ấn Độ chia sẻ.

Tuy nhiên, nhóm diều hâu ở Ấn Độ như Parthasarathy muốn thấy đất nước họ đẩy lùi Trung Quốc một hoặc hai bước, và tăng tình hữu nghị với Việt Nam là một trong những cách để đạt được mục tiêu này.

“Chúng tôi không tuyên bố Ấn Độ Dương là lãnh thổ của Ấn Độ như Trung Quốc đang làm đối với khu vực Biển Đông”, ông Parthasarathy nói. “Mối quan hệ của chúng tôi [với Việt Nam] đã phát triển rất tốt ngay cả trước khi mối quan hệ Việt-Trung trở nên căng thẳng. Chúng tôi là một trong những nước đã lên tiếng nói không với chiến tranh của Mỹ, chúng tôi đã bộc lộ sự không hài lòng này khá rõ ràng. “

“Hiện nay Trung Quốc đang hoạt động hầu như trên tất cả các sân sau của chúng tôi, và tại sao họ phải lo ngại về điều này? Nếu bạn nghĩ rằng chúng tôi sợ Trung Quốc thì tôi có thể đảm bảo với bạn rằng chúng tôi không sợ,” ông Parthasarathy kết luận.

M.S.
Ngày 6 tháng 1, 201
1

© 2012 Bản tiếng Việt TCPT

Advertisements
Posted in: Chính trị