Học văn hay học nói dối, hoang tưởng?

Posted on Tháng Một 10, 2012 bởi

1



Linh Sơn, CTV Phía Trước

Có quá nhiều những lý do khiến thế hệ trẻ ngày nay coi thường môn văn hay chán ngán với môn văn. Không phải chỉ vì tâm lí xã hội thực dụng cho rằng theo đuổi môn văn khó làm giàu mà bởi vì chính quan niệm sai lầm của người biên soạn sách giáo khoa đã khiến xã hội, mà trước hết là đối với người học, hiểu sai về bản chất của môn văn.

Bất thường và hoang tưởng

Một trong những phương diện quan trọng của môn Ngữ Văn là giúp học sinh phát huy tư duy trừu tượng và trí tưởng tượng. Thế là sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9 đã hồn nhiên đưa ra các bài rèn luyện kĩ năng này cho các em. Nhìn bề ngoài các đề này có vẻ tạo cho các em học sinh điều kiện rèn luyện khả năng tưởng tượng, phát huy nhiều tình cảm đẹp của mình. Thế nhưng chúng hoàn toàn thiếu cơ sở thực tế, đẩy học sinh vào tình huống vô lí. Hãy xét các đề sau đây trong sách Ngữ Văn lớp 9 tập 1 để thấy sự bất thường, vô lí đến ngớ ngẩn, bệnh hoạn của nó:

  • Đề 1: Hãy kể về một lần em trót xem nhật ký của bạn.

Mục đích của đề này là hướng học sinh đến bài học về phép lịch sự, tế nhị, biết tôn trong đời sống riêng tư của người khác. Từ đó biết ăn năn về lỗi của mình. Thế nhưng, nếu đó là sự thật diễn ra và các em kể lại với cảm xúc ăn năn thật của mình là điều hợp lí. Tại sao lại đẩy các em vào tâm thế của người phạm tội rồi buộc các em đi tìm cảm giác ăn năn trong khi các em chưa mắc phải? Đó là hoang tưởng, là nói dối. Buộc học sinh viết ra 1 câu chuyện mà chính họ không có sự nếm trải, kinh nghiệm thực tiễn thì khó trách tại sao học sinh lại chán ngán với dạng đề này, và cho rằng môn văn vớ vẩn.

  • Đề 2: Hãy kể về một lần em đi thăm mộ một người thân.

Nếu các em học sinh chưa có người thân nào trong nhà mất và chưa bao giờ đi viếng mộ thì sao? Thật vô duyên khi bắt các em tưởng tượng và đặt mình vào tình huống tối tắm, kiêng kỵ như vậy. Mà trên thực tế đâu phải gia đình nào của người Việt cũng có truyền thống đi tảo mộ đầu nămm nhất là đối với những gia đinh thành thị thì việc này càng hiếm. Huống hồ, đối với nơi mồ mả âm u thì trẻ em thường không được đưa đến đó. Đề tài mà các sách giáo hoa đưa ra không có cơ sở hiện thực nào để các em hư cấu vấn đề. Và, cuối cùng lại là trò cố nói cho ra bài nộp, nó chỉ tập cho học sinh cái thói bịa chuyện nói bừa.

  • Đề 3: Hãy tưởng tượng hai 20 năm sau, em trở về thăm trường cũ và kể lại nhưng kỉ niệm về thầy cô, bạn bè, trường lớp trong chuyến đi đó.

Thoáng nhìn bề ngoài có vẻ đó là đề độc đáo, vì kích thích tình cảm sâu sắc của học sinh đối với thầy cô, bạn bè, và trường lớp. Nhưng người ta quên đi một điều rằng có những cảm xúc đẹp chỉ xảy đến với con người khi con người thật sự nếm trải cuộc sống diễn ra với họ. Ở lứa tuổi 14, 15 bỗng dưng buộc các em hóa thân vào tâm lý của người trưởng thành rồi tự ảo tưởng đến những cảm giác luyến tiếc, mất mát mà mình chưa trải qua. Tất cả lại là những lời rưng rưng ứ đầy nước mắt của những tâm hồn thiếu trải nghiệm.

Cần nền tảng thực tế

Sở dĩ các nhà biên soạn sách có cách ra đề kiểu này là vì hời hợt đem học sinh so sánh với các nhà văn. Họ cho rằng các nhà văn khi viết ra một truyện ngắn hay một tiểu thuyết, đôi khi có những tình huống, sự việc, chi tiết họ không hề trải qua, nhưng bằng kinh nghiệm sống, trí tưởng tượng họ có thể hóa thân vào nhân vật, hư cấu vấn đề. Thế nhưng các giáo sư tiến sĩ quên rằng, quá trình hư cấu, nhập tâm, đẩy trí tưởng tượng đi xa thật xa đó là xuất phát từ mục đích tự thân, từ dụng ý nghệ thuật có sẵn thôi thúc họ viết. Có những việc họ chưa trải qua vẫn tưởng tượng để viết được là do họ có kinh nghiệm sống, có quá trình quan sát, tích lũy, tức là có cơ sở thực tế. Còn đối với học sinh lại là sự áp đặt từ trên trời rơi xuống, cho nên cái tưởng tượng đó rất phản khoa học và chỉ đưa học sinh đến trạng thái hoang tưởng chứ không phải phát triển tư duy trừu tượng.

Trí tưởng tượng, tư duy trừu tượng có thể rèn luyện cho học sinh hóa thân vào một nhân vật nào đó để đồng cảm với nhân vật, đặt mình vào hoàn cảnh nhân vật để cảm nhận nỗi đau, niềm vui hay bất kì cung bậc cảm xúc có tính phổ quát. Lúc này trong tình thế giả định, vừa tạo cho học sinh sự nhập tâm, vừa có cơ sở thực tế. Ví dụ hãy hóa thần vào nhân vật Thúy Kiều để hiểu được những bất hạnh đau đớn của nàng. Lúc đó học sinh sẽ tưởng tượng ra cảnh gia đình ly tán, cảnh lưu đày xa quê hương, xa cha mẹ, người thân… Những ý tưởng đó rất gần gũi dễ dàng liên tưởng tạo cho các em cảm xúc.

Trí tưởng tượng, cảm xúc được phát sinh phải trên một nền tảng thực tế nào đó chứ không phải tùy tiện đặt người khác vào những giả định ngớ ngẩn. Sự hư cấu của các nhà văn xuất phát từ nhu cầu tự thân, có sự trải nghiệm, suy tính và dụng ý nghệ thuật trong khi tưởng tượng của học sinh trong các đề trên chỉ là trò hoang tưởng, bìa đặt vặt vãnh. Chính nhận thức ấu trĩ, không phân lập rõ sự khác biệt này đã dẫn đến cách thiết kế chương trình vô duyên như đã nêu trên.

Trong thời đại khoa học, thông tin ngày nay, trò hoang tưởng, nói dối kia làm nhiều người càng cảm thấy phì cười, hiểu lệch lạc về môn văn. Các chương trình giảng dạy môn Ngữ Văn nên (và dứt khoát) dẹp bỏ đi cái tư duy làng xã bậy bạ này, bằng ngược lại nó chỉ gây cho học sinh chứng nói khoát, nói bừa, nói để hài lòng người khác, chuyện không biết, không có mà bịa ra nói như thiệt…!

© 2012 TCPT