Tình yêu, chiến tranh, tôn giáo… các nhà văn Việt Nam tấn công những chủ đề kiêng kỵ (*)

Posted on Tháng Một 11, 2012 bởi

0



Thanh Thủy (biên dịch)
Jean- Claude Pomonti**
TCPT số 9 (12/2007)

Hai cuộc chiến tranh liên tiếp, chống Pháp rồi chống Mỹ, từ 1946 đến 1975, đánh dấu linh hồn của một dân tộc. Từ lâu, dưới sự thúc đẩy của Đảng cộng sản, nền văn học Việt Nam dấn sâu vào tư tưởng “ hiện thực xã hội chủ nghĩa”, ngợi ca tổ quốc, nhân dân và những thời khắc anh hùng của các cuộc chiến. Thời thế thay đổi. Một thế hệ nhà văn mới nối lại những giá trị nghệ thuật khác và trở nên đủ khả năng nói “tôi”..

Hơn hai phần ba người Việt Nam ra đời sau năm 1975. Chủ nghĩa anh hùng của quá khứ, tưởng như gần vậy, mà đã không còn là hệ quy chiếu duy nhất, ngay cả khi chủ nghĩa ấy khắc sâu vào lịch sử của một đất nước đã chiến đấu, trong hàng thế kỷ, cho độc lập và thống nhất. “Niềm tin vào sự giải phóng kép, xã hội – nhờ chủ nghĩa Mác-xít, Lênin-nít – và dân tộc – nhờ chiến tranh – đã được thay thế bằng sự thiếu vắng lý tưởng của thế hệ trẻ sau chiến tranh”, Đoàn Cầm Thi, nhà phê bình văn học tại Paris, nhận định.

Trong nội bộ cũng như bên ngoài Đảng cộng sản Việt Nam, những cựu chiến binh lo lắng về điều đó. Nhưng sự trống rỗng chẳng qua chỉ che phủ một xã hội phức tạp hơn đang hình thành. Sự lưỡng phân chính thức – giữa cái tốt và cái xấu- phai nhạt dần theo thời gian. Đoàn Cầm Thi nhắc lại, khi nói tới vấn đề của Việt Nam, lời phát biểu của Các Mác về những đất nước “nghèo khổ cả trong anh hùng và sự kiện”. Trong một truyện rất ngắn, Đỗ Khiêm, một người chia sẻ cuộc sống giữa Pháp, Mỹ và Việt Nam, trích dẫn Kiều, một nữ anh hùng bất hạnh trong một tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng của Việt Nam thế kỷ XIX: “Tiếc
thay chút nghĩa cũ càng. Dẫu lìa ngỏ ý còn vương tơ lòng”. Nhưng Đỗ Khiêm, tác giả của những tác phẩm được đánh giá cao trong làng văn trẻ Việt Nam, khi ngâm câu thơ ấy, chỉ muốn khẳng định điều ngược lại: “chẳng ai gắn bó với tôi cả”.

Sau cuộc chiến tranh Đông Dương, một thế hệ nhà văn tài năng chú tâm tới sự bất hạnh của chiến tranh và sự thất vọng của thời kỳ hậu chiến. Đa số xuất thân từ miền Bắc và bước ra từ phe thắng trận. Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Dương Thu Hương và Phạm Thị Hoài là những người tiên phong. Cái nhìn của họ về chiến tranh và xã hội vừa ra khỏi cuộc chiến đó đã vượt trội lên những tác phẩm của thời kỳ cải cách đầu tiên, quyết định bởi Đảng Cộng sản năm 1986, và thời mở cửa của Việt Nam ra thế giới. Một vài tác phẩm cũng thuật lại những vết sẹo mà cuộc cải cách ruộng đất tàn bạo những năm 1955- 1956 để lại ở miền Bắc, hoặc một số làn sóng đàn áp sau đó.

Trong những năm 1990, Hà Nội trở thành trung tâm của sự đổi mới văn học, mà tiếng vang được tạo dựng ở nước ngoài nhiều hơn – bởi ở trong nước, một số tác phẩm bị cấm và chỉ được chuyền cho nhau dưới lớp áo măng-tô, mặc dù việc chuyền tay này diễn ra rất thường xuyên. Sự xuất hiện của thế hệ nhà văn này đã đánh một đòn quyết định cho nền văn học chính thức vốn được nuôi dưỡng bởi nền hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Đó là sự kết thúc của một huyền thoại, hoặc, một nền đạo đức giả.

Việt Nam đã trải qua một sự xáo trộn, không phải một cuộc cách mạng. Đối diện với một làn sóng nhà văn, đồng thời là những điều tra viên, những nhà văn học chính thức chỉ nhận được, như là câu trả lời, sự kiểm duyệt hoặc sự biên tập lại, nhất là sự biên soạn lại những cuốn sách giáo khoa lịch sử. Công chúng đã bị gạt sang một bên. Thực tế, đó chỉ là một cuộc chiến ngầm và càng ngày càng ít mãnh liệt. Sự kiểm duyệt thường chỉ được thực hiện sau khi tác phẩm đã xuất bản. Các nhà xuất bản tự chịu trách nhiệm trước khi đưa ra thị trường một tác phẩm, với nguy cơ rằng tác phẩm đó có thể bị rút lại sau khi đã lưu hành. Sự cấm đoán, sau khi phát hành ít lâu, của Chuyện kể năm 2000 xuất bản bởi NXB Thanh Niên, là một minh chứng. Qua tác phẩm, tác giả Bùi Ngọc Tấn thuật lại những điều kiện khắc nghiệt mà anh ta đã trải qua khi bị giam giữ, ba thập kỉ trước đó, trong chiến dịch “xét lại chống Đảng”. Cuốn sách bị tiêu hủy, dưới mệnh lệnh của chính quyền, vài tuần sau khi tác phẩm được đưa ra bán.

Ngược lại, tháng 3 năm 2005, Chinatown (Phố Tàu), một tiểu thuyết của Thuận, nhà văn trẻ thuộc cộng đồng người Việt ở Pháp, đã được xuất bản và bán rất chạy ở Việt Nam.

Sự khởi xướng này còn thú vị ở chỗ nó đề cập đến chủ đề nhạy cảm về những người Hoa bị làm nhục khi cuộc chiến biên giới nổ ra giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 1979. Chủ đề này trước đó dường như bị cấm kỵ.

Sự đột phát đó vẫn chưa nói được hết về cái cách mà trang giấy trắng đang mở ra ở thời điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ sẽ được viết. Những tác giả của thời kỳ đầu cải cách đã đặt lại vấn đề, với sức mạnh và tài năng, sự hoang đường của lịch sử chính thức và nền hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Trừ Dương Thu Hương, tranh đấu cho quyền con người, họ dường như ít có đề xuất cho tương lai. Về phần Đảng Cộng sản, “Người cha của Chiến thắng”, họ muốn làm mới tính chính danh bằng cách dựa vào ba yếu tố : sự phát triển kinh tế, cuộc đấu tranh chống lại những “hiện tượng tiêu cực” – tham nhũng, băng hoại đạo lý – và sự quay trở lại những giá trị dân tộc, hoặc, lịch sử. Thay thế sự “đoàn kết quốc tế” đang tan biến bằng hình ảnh Khổng tử có lẽ có thể trấn an dân chúng vốn đã quá lâu bị nuôi dưỡng bởi những câu khẩu hiệu sáo rỗng mà họ cũng chẳng buồn để ý đến.

Nhưng những khát vọng vẫn ở đâu đó, và một sự tiếp nối đang bắt đầu.

Ngay ở những thị trấn xa xôi hẻo lánh nhất, những quán cà phê internet sinh sôi nảy nở. Một tuổi trẻ đôi khi ăn không ngồi rồi khám phá một thế giới không giới hạn. Internet dẫn người ta du hành tới nơi khác, tìm kiếm những hệ quy chiếu khác. Nó phá vỡ rất nhiều chướng ngại. Nhiều tờ báo tổ chức những cuộc “đối thoại trực tuyến” (chats), khá được ưa chuộng, với nhiều tác giả khắp mọi nơi, trong đó có cả những tác giả thuộc cộng đồng. Nhiều ranh giới biến mất. Và theo họ, trong cuộc tìm kiếm các giá trị, “góc nhìn ngang” (horizontalité) (1) đang thắng thế ít nhiều trên “góc nhìn dọc” (verticalité) (2). Họ đi tìm kiếm ở quanh mình các câu trả lời, vượt ra khỏi thói quen vốn áp đặt rằng những lời hay ý đúng chỉ đến từ trên cao.

Mỗi người một con đường. “Chính phủ muốn mở cửa cho những nhà thơ và nhà văn trẻ, nhưng áp đặt nhiều điều hạn chế. Chính phủ muốn người ta viết về những anh hùng của thời chiến như từ trước đến nay , nhưng chúng tôi không thể, vì chúng tôi không trải nghiệm thời điểm ấy. Chúng tôi nói về tình dục”, Lynh Barcadi – bút danh của một nhà thơ trẻ ở Sài Gòn, thành viên của một nhóm nữ mang tên “Ngựa trời” – kể lại.

“Những người trẻ đề cập đến những chủ đề cấm kỵ: sự thoái lui của cuộc đấu tranh giai cấp, ma túy, sự thoái hóa của giáo dục công, đồng tính luyến ái”, một nhà phê bình nghệ thuật người Sài gòn, bị hấp dẫn bởi sự táo bạo này, giải thích. Ngoài sự “dấn thân” mà cô coi là hiển nhiên, Đoàn Cầm Thi gợi lại một nền văn học “tâm tình và xứng đáng được coi trọng, bởi cái “tôi” là một phần không thể tách rời của thế giới”. “Không nhắm mắt trước những vấn đề xã hội, cô bổ sung, họ nói với chúng ta về cuộc sống của họ, về những mối quan tâm, về ước mơ, về những nỗi đau của họ; khi miêu tả một thế giới bí hiểm, khi lặn ngụp trong những vùng mờ ảo của vô ý thức, họ làm độc giả hoang mang và không thoải mái”.

Lý Đợi, phát ngôn viên của một nhóm những người trẻ, tự nhận là “phản thơ”, mang tên Mở Miệng, thành lập năm 2000 ở ngoại ô Sài Gòn, tuyên bố trong một bài viết ngắn phát tán trên mạng năm ngoái:

“Tôi không có cảm giác về truyền thống. Tôi có cảm giác về những không gian vĩ đại. Tôi có cảm giác về thời đại của chính tôi. Tôi không dính líu gì đến những thứ khác.

Tôi không thuộc về bất cứ tục lệ nào-bất cứ đảng phái nào-bất cứ tôn giáo nào-bất cứ ý thức hệ nào-bất cứ tổ chức nào. Mẹ kiếp thế, tôi thuộc về tôi. Tôi có cảm giác về sự tự do nguyên thuỷ và chân diện của mình. Tôi cảm thấy muốn tuyên chiến với những cái đang sắp hàng theo trật tự thương mại : bảo tàng viện, những phê bình gia, những sử gia nghệ thuật, những nhà mỹ học và cái gọi là những lực lượng văn hoá…Tôi tin rằng nền nghệ thuật đích thực chưa được sinh ra ; bởi nền tự do và công bình đích thực chưa được sinh ra. Tự do chưa sinh ra. Kiệt tác tự do cũng thế.”

Những nhà văn trẻ này đang ngấp nghé thuyết hư vô. Đôi khi họ thô thiển, nhưng không tục tĩu. Họ điều khiển sự thách thức với một sự ham muốn nghiêm túc cho những thứ bình thường, chỉ để “đánh rơi cái mặt nạ” và tự thưởng cho mình một luồng không khí trong lành. “Sự thách thức trong ngôn ngữ không phải là chính yếu. Điều quan trọng là tìm đến một ngôn ngữ bình dân, một ngôn ngữ thông thường; điều quan trọng là sự trung thực”, Lý Đợi giải thích. Họ không nhắm đến việc xuất bản các sáng tác. Và cái được gọi là “nhà xuất bản” của họ, “giấy vụn” chỉ là những bản photocopy được phân phát và những đĩa CD.

Họ đòi hỏi sự ngoài lề, và sử dụng ngôn ngữ bình dân miền Nam, không che giấu những điểm thông tục. Họ muốn những sáng tác của họ trở thành tiếng nói của những vùng ngoại thành nơi họ xuất thân, một mảng văn học “bụi đời”, nhưng là những “bụi đời” mang theo mình hành trang văn hóa và lịch sử vững chắc.

Dò dẫm, hướng đi của họ là cuộc tìm kiếm những cái gì khác, trong cách suy nghĩ cũng như trong diễn đạt. Họ bị ảnh hưởng bởi một trong những người anh cả, những người tự xưng là “công dân thế giới”, Nguyễn Quốc Chánh, một người con kinh khủng của sân khấu văn chương Sài Gòn, tác giả của một bài thơ – “Đụ vỡ sọ” – đã từng gây tiếng vang trong diễn đàn văn học Việt Nam. Đó là sự chối từ những con đường mòn nhiều người qua. Đó cũng có thể là sự phản ánh của một tuổi trẻ đang đấu tranh với sự trống rỗng, chán chường, sợ hãi bằng một cách khác, chứ không trốn chạy trong ma túy, tình dục và tiền. “Một khát vọng sống hết sức bình thường, đó chỉ là được sống một cách khác, được nghĩ một cách khác so với những người đi trước”, Đoàn Cầm Thi kết luận. Những người trẻ không phải chỉ là những kẻ nghiện ma túy cần phải hướng lại vào con đường thẳng hoặc vào cuộc chạy đua kiếm tiền.

Trong lòng Đảng cộng sản, những cựu chiến binh nhận ra rằng Đảng vừa là người chơi vừa là trọng tài gây nên một hoàn cảnh lập lờ và thiếu tầm nhìn. Không có đối trọng và đối thoại, phong trào không đề xuất được một chương trình cụ thể. Một người Pháp hiểu biết về Việt Nam của ngày nay gợi lại “sự trống rỗng phi thường để lại bởi “những nhà tư tưởng mới” tư bản- mácxít Việt Nam về mặt ý thức hệ, thông điệp, về đạo đức và đạo lý, khi chính họ đang sa lầy trong hệ thống đó”. Lắng mình vào truyền thống và chủ nghĩa dân tộc chưa đủ để lấp đầy khoảng trống. Ngược lại, chúng có xu hướng làm nổi bật và đào sâu thêm những chênh lệch giữa quyền lực chính trị và xã hội, một xã hội vốn đang phải đương đầuvới những hoàn cảnh hoàn toàn mới: lần đầu tiên kể từ thế kỷ XIX, nước Việt Nam thống nhất và độc lập đang phải tìm lời giải không chỉ cho vấn đề sống chung với Trung Quốc, mà còn cho câu hỏi về vị trí của đất nước trong thời kỳ toàn cầu hóa.

Trong “Tuổi hai mươi yêu dấu”, một tiểu thuyết ngắn đã được xuất bản bằng tiếng Pháp năm 2005, Nguyễn Huy Thiệp miêu tả một tuổi trẻ sa đọa mà chỉ sự tìm lại thiên nhiên và truyền thống mới có thể giải thoát cho họ. Là sản phẩm của sự thất vọng cá nhân, truyện ngắn hơi hạn chế về ý nghĩa: tác giả tự đặt mình – hoặc thử tự đặt mình – vào địa vị của một thiếu niên giáo dục tốt, nhưng sa vào thế giới của những kẻ nghiện ma túy và xã hội đen. Cậu chỉ thoát ra được sau khi được đưa đến một đảo ở vịnh Hạ Long, nơi cậu bị buộc phải cai nghiện trước khi được đón tiếp bởi những ngư dân, những người sau này sẽ giúp cậu tìm lại hương vị của cuộc sống. Tin về cái chết của người cha, một nhà văn nổi tiếng và không thể chê vào đâu được, gợi lại trong cậu niềm hối hận. Tất cả, như vậy, quay trở lại vị trí của nó.

Nhân dịp 30 năm kỷ niệm sự kiện năm 1975, Nguyễn Huy Thiệp viết “ngày nay, để lấp đầy sự hao tổn của những giá trị truyền thống, người ta theo đuổi một lối sống vật chất, bạo lực, hoan lạc”. Ông viết thêm rằng “tham nhũng là một vấn nạn mà người ta không thể chặn được”, rằng “những tham ô hủ lậu này làm hư hỏng tinh thần của tuổi trẻ”. Cái nhìn đơn giản hóa này tuy nhiên không mang đến một câu trả lời thực sự bởi sự trở lại với thiên nhiên và trật tự truyền thống, vốn cũng được rao giảng bởi những nhà cầm quyền, chỉ là không tưởng. Nó bị phủ nhận bởi chính sự nở rộ của một thế hệ nhà văn mới với những bận tâm thuộc một trật tự hoàn toàn khác.

Việt Nam là một đất nước mà sự năng động đã được phục hồi sau hai cuộc chiến kéo dài 30 năm, rồi một thập niên lạc lối và một thập niên do dự. Một nghệ sĩ của cộng đồng người Việt tại Mỹ, Đinh Q. Lê, đã giải thích con đường của Việt Nam như sau: “Họ đánh nhau trong vòng hai mươi năm. Họ không hề có một ý niệm về việc quản lý một đất nước. Như vậy, họ tiến lên, họ say sưa, rồi tiến lên một lần nữa. Nhưng các bạn cũng sẽ nhận thấy trong xã hội ấy, có một điểm gì đó phân biệt nó trong vùng Đông Nam Á: một sự thôi thúc cải thiện mình và làm một điều gì đó cho cuộc sống của chính họ”.

_______________

*Bài báo được đăng trên Le Monde Diplomatique tháng 12/2007, với Nguyên văn tựa đề: «Amour, guerre, religion… Les écrivains vietnamiens s’attaquent aux tabous».

(1) Góc nhìn ngang : Xu hướng đặt tất cả các giá trị ngang bằng ở vạch xuất phát

(2) Góc nhìn dọc : Xu hướng dành sẵn ưu tiên cho một số giá trị được coi là ở vị trí cao hơn

**Jean-Claude POMONTI, nhà báo và chuyên gia về Đông Nam Á Sinh năm 1940, Jean-Claude Pomonti theo học tại Viện nghiên cứu Chính trị Paris, rồi tại Inalco. Ông đã khám phá Đông Nam Á trong chuyến du lịch đầu tiên năm 1965. Từ năm 1968 đến 1974, ông làm phóng viên cho tờ báo Le Monde tại Băng-cốc, nhờ đó ông được nhận giải thưởng Albert-Londres (1973) cho loạt phóng sự về chiến tranh Mỹ ở Việt Nam. Cũng với tờ nhật báo Pháp này, ông làm phóng viên ở Đông Phi, rồi ở Paris. Sau đó, ông trở thành Phó tổng biên tập phụ trách mảng châu Á (1985-1991) của Le Monde. Năm 1991, ông nhận trở lại vai trò phóng viên cho tờ báo tại Băng-cốc. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về bán đảo Đông Dương và châu Phi.

Tham khảo: http://www.bibliomonde.com/auteur/jean-claude-pomonti-
2098.html

S

Download TCPT số 9