Lan man chuyện hương khói…

Posted on Tháng Một 23, 2012 bởi

0



Bùi Nguyễn Quý Anh
TCPT số 10

Tết đến bất luận già trẻ, gái trai đều có niềm nôn nao được hái lộc đầu xuân, được chúc tuổi và nhận lì xì… Nhưng trên tất cả đó là sự hồi hộp trong chờ đợi thắp những nén nhang (hay đốt lên những khoanh trầm hương) khi thực hiện nghi lễ cúng đưa Ông Táo về trời và mang theo những báo cáo công ăn việc làm, gia sự của năm cũ cùng những mong mỏi đổi đời trong năm mới…

Tục dâng hương

Dân tộc ta có tục dâng hương làm lễ tế thần linh, ông bà, tổ tiên, các vị anh hùng dân tộc. Qua mỗi thời đại, tục dâng hương đã có ít nhiều thay đổi và ngày càng thêm những nét mới, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế-xã hội nói chung và đời sống tâm linh nói riêng.

Trong “Việt Nam phong tục”, học giả Phan Kế Bính cho biết: “Trương Tân là Thứ sử Giao Châu, thường đốt hương ở nhà Cát Lập Tinh Xà để đọc đạo thư. Tục ta có lẽ khởi đầu từ đó”.

Tục dâng hương đến nay đã gần như ổn định trong tín ngưỡng của các dân tộc. Người dân dâng hương cúng bái gia tiên, gia thần vào các kỳ giỗ chạp. Tại các đình, miếu hay chùa chiền đều có dâng hương vào các dịp Tết Nguyên Đán, tiết Khai Hạ (mồng bẩy tháng giêng), tiết Thượng Nguyên (mười lăm tháng giêng), Phật Đản (Rằm tháng tư, có nơi mùng tám tháng tư[1] ), tiết Trung Nguyên (mười lăm tháng bảy)… Hàng năm, theo truyền thống, nước ta có những kỳ lễ dâng hương lớn ở một số địa phương: Hà Nội, ngày mồng 7 tháng 3 ở phủ Tây Hồ thờ Bà chúa Liễu Hạnh, ngày 3 đến 6 tháng 2 ở đền Hai Bà Trưng, ngày 9 tháng 4 ở đền Gióng; Hải Dương, ngày 20 tháng 8 hội lễ đền Kiếp Bạc thờ anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo; Nam Định, từ 1 đến 10 tháng 3 hội Phủ Giầy; Phú Thọ ngày 10 tháng 3 lễ hội Đền Hùng…

Cung kính thắp nén hương, lòng người cảm thấy thanh thản, như được giao hòa cùng trời đất. Đằng sau hành động “đốt”, “cắm”, là những điều cao cả hướng vào tâm linh con người. Chính vì vậy mà việc dâng hương mang giá trị văn hóa, đạo lý. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Uống nước nhớ nguồn”. Dâng hương tại gia để thờ cúng tổ tiên và những người đã khuất. Dâng hương ở các đình, chùa, miếu, ngoài việc thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng còn có mục đích thoả mãn nhu cầu văn hoá truyền thống. Như vậy, nét hay của đạo lý trong tục dâng hương là ở lòng thành và nét đẹp thẩm mỹ, đạo đức, văn hóa lại thể hiện ở nghi thức dâng hương. Đó là triết lý dân tộc, là giá trị văn hóa tinh thần mà mỗi chúng ta phải gìn giữ, bảo tồn và phát huy.

Biểu tượng và mục đích

Hơn bất kỳ chất liệu nào khác, trầm hương luôn gợi nên sự thức tỉnh tâm linh của người phương Đông. Dù là đám mây hương khói dâng lên cuồn cuộn, những làn khói thanh tao mong manh, hay những dải mây lừ đừ biến hoá tỏa lan, khói hương luôn tạo một nét duyên dáng, dễ thương và huyền ảo của hư không vô tận: một không xứ, một thức xứ hay một chiều thời gian xa xăm. Phong tục đốt hương chắc chắn đã không chỉ giới hạn ở vùng Viễn Đông vì từ những thời xa xưa, tập tục này được phổ biến hết sức rộng rãi để thu hút trí tưởng tượng của khách du lịch hành hương, để nhắc họ xem những ngôi chùa Phật như những “Thánh điện có Hương ngũ phần”, và những nhà sư như các “vị vua của hương trời tịnh khiết”.

Tuỳ theo thời lượng một tiếng hay nhiều ngày, hương đốt có đủ mọi kích cỡ và kiểu dáng. Kiểu phổ dụng thường thấy ở Hồng Kông là những vòng nhang xoắn đồng tâm hình nón khổng lồ. Kiểu phổ thông trong các lễ hội của người Hoa ở Thái Lan, Malaysia và Singapore là những cây nhang to kềnh giống như những thân cây nhỏ, trong lúc những que nhang bé nhỏ mảnh khảnh hơn thì được tìm thấy ở khắp mọi nơi. Bất luận loại hình được ưa thích, trầm hương vẫn được phổ biến như thuở nào ở Á châu. Việc đốt hương hàng ngày thì nơi nào cũng có, để khởi đầu một phong tục thờ cúng hay nghi lễ, cũng như để biểu hiện toàn bộ đời sống tín ngưỡng tôn giáo, đời sống của thế giới bên kia cửa tử hay đời sống tâm linh thanh tịnh.

Tục đốt gỗ thơm chiên đàn hay nhựa thơm như một phần kết hợp của sự thờ phượng, nghi lễ tôn giáo đã phổ biến trong nhiều nền văn hoá từ thời xa xưa. Có một nhà nghiên cứu về văn hoá phong tục cho rằng: “Sự lan tỏa của khói và mùi thơm của trầm hương, sự di chuyển sinh động của những làn khói vươn thẳng đến thiên đường và các tầng trời đã tạo cho nó một mối liên hệ mang tính biểu tượng giải thoát của người cầu nguyện và làm cho sự dâng hiến, phát nguyện đồng nghĩa với sự thờ phụng sùng kính”.

Lần về cội nguồn

Những nguồn gốc chính xác của hương đốt hình như bị lạc mất trong đám mây mù của thời kỳ cổ xưa. Vì hầu như nó không có cùng tính bản xứ đối với những nền văn hoá mà ngày nay chúng có liên hệ sâu xa. Phần lớn ý kiến hiện hành đều cho rằng hương đốt đầu tiên được những nền văn minh cổ đại ở Trung Đông sử dụng. Thời đó, hương đốt được làm từ nhựa lấy từ thân của loài cây Boswellia mọc rất nhiều ở miền Nam Ả Rập và Somalia. Người xứ Sumeria và dân xứ Babylone đã đốt những chất này trong niềm tin là chúng có thể làm vui lòng Thượng đế cùng các vị thánh, thần để họ tịnh hoá và gia trì các ngôi đền của loài người.

Ở Ai Cập, hương đã được sử dụng từ triều đại thứ XVIII (1570-1293 trước Dương lịch). Trong quyển “Egyptian Boo of the Dead” – tài liệu viết tay đầu tiên nói về các nghi lễ tôn giáo và các pháp thuật phù thủy – nói rằng việc đốt các chất tạo mùi thơm là một việc quan trọng trong các nghi thức chôn cất. Cùng với sự phát triển mậu dịch trao đổi, các nền văn minh Tây phương xa xưa cũng áp dụng sự đốt hương, và trong các triều đại Ai Cập như Sheba, Hadramaout và Qataban, đất nước này đã giàu phất lên từ việc xuất khẩu hương liệu. Sophocles, nhà viết kịch Hy Lạp cổ đại, đã viết trong những dòng mở đầu của vở Oedipus như sau: “Thành phố trở nên nặng nề trong đám bòng bong hiển hiện của đủ loại âm thanh mùi vị, những tiếng kêu la rên xiết của dân nghèo và người nô lệ, những lời hát ca cầu nguyện của dân chúng, những lời tán tụng của giáo sĩ, và đủ loại mùi hương”. Tại Rome (thủ đô La Mã), bạo chúa Nero đã từng đặt mua một khối lượng hương đốt khổng lồ tương đương với số lượng hương mà nước Ả Rập sản xuất trong một năm để đem đốt trong lễ an táng Popea – người vợ yêu dấu của y.

Tuy trầm hương có mặt phổ biến trong thế giới cổ đại, chính ở Đông phương mới là nơi nắm giữ thật sự ý nghĩa gốc của việc sử dụng hương trong toàn bộ các nền văn hoá. Dù tục đốt hương lan truyền từ Trung Đông đến những phần đất cuối cùng của Á châu như một số giả thuyết đã nêu, và cho dù việc đốt hương là một quá trình phát triển độc lập trong âm thầm, điều chắc chắn là nghi thức đốt gỗ chiên đàn đã được thực hành tại Ấn Độ từ những thời rất xa xưa cũng như tại Trung Quốc, nơi mà các kinh điển Đạo giáo đều có đề cập đến việc sử dụng hương.

Phát xuất từ Ấn Độ, theo con đường lan truyền của Phật giáo, tục đốt hương đã được hình thành tại khắp các xứ vùng Đông Nam Á. Ban đầu, chất nhựa thơm và trầm hương (những chất thơm đắt giá nhất ở vùng Trung Đông, từng là những món quà của các thầy tư tế gửi đến Chúa Hài đồng Jésus) được sử dụng ở Viễn Đông phần lớn đều nhập từ Ả Rập. Tuy nhiên, dần dần những nhà sản xuất nhang thơm, đã tạo ra một công thức bột thơm phổ biến bao gồm nhiều chất khác nhau như: bột gỗ chiên đàn, long diên hương, cây húng quế, benzoin, camphor, hoa lài, cỏ thơm ba lá, cây xạ hương, và cây hoắc hương để tạo ra một loại nhang thơm đặc biệt.

Tài liệu

Có cả một bộ sách nói về những công thức làm bột nhang khác nhau với đầy đủ phần minh hoạ và cách sử dụng cùng những ý nghĩa nghi thức hay biểu tượng. Chẳng hạn một tác giả người Nhật về lãnh vực này, đã thu thập và đặt tên cho không dưới 130 loài nhang tổng hợp khác nhau. Theo lệ thường, những công thức làm bột nhang đặc biệt được người ta cất giữ hết sức cẩn mật, và những gia đình sản xuất nhang thơm bao giờ cũng sống thoải mái với thu nhập cao cùng sự kính nể của quần chúng vì loại hương có mùi thơm đặc trưng tạo sự sảng khoái tuyệt vời độc nhất vô nhị của họ. Khi được hỏi về bí mật của chất bột nhang, thường những người làm hay bán nhang chỉ đưa ra những lời trống rỗng vu vơ, gọn lỏn kiểu như: “bột gỗ thơm trộn với tinh dầu hoa lài của Thái” theo lời của một công ty sản xuất một nhãn hiệu nhang thơm đen đặc biệt của Thái Lan ở Bangkok.

Trên thực tế, có rất nhiều sự phức tạp trong cách pha trộn và chế biến các loại bột nhang đặc biệt. Chất lượng của các loại hương đốt khác nhau một trời một vực và chủ yếu dựa vào những công thức bí mật của chúng. Tuy nhiên, thành phần cơ bản của loại bột hương thông thường gồm có: mạt cưa (đủ loại gỗ) – dùng như chất phụ gia tạo sự liên kết định hình khi trộn với keo dính, bột gỗ chiên đàn, nhựa gỗ thơm và các loại cây cỏ có mùi thơm. Đối với những sản phẩm nhang đắt tiền và sang trọng hơn thì trong thành phần bột nhang có cả một danh sách dài vô tận những chất phụ gia khác nhau trích từ bột gam mùi thơm của thế giới tự nhiên. Bạn đọc nào muốn tìm hiểu kỹ hơn về cách chế tạo nhang có thể ghé trang web sau: http://www.japanese-incense.com. Đây là trang web tổng hợp về lịch sử làm nhang của Nhật Bản, các công thức và cách thức làm đồng thời có hình minh họa rõ ràng v.v.

Những đại gia trong làng sản xuất trầm hương

Ấn Độ được xem là nước sản xuất loại hương đốt có chất lượng tốt nhất ngày nay, những chất tinh dầu thơm được pha chế một cách tinh vi của họ đã được xuất khẩu sang nhiều vùng khác nhau trên thế giới. Trung Quốc cũng là một nhà sản xuất lớn nhất đã xuất khẩu hàng triệu hộp nhang xoắn hay bó nhang que thơm với đủ mọi kích cỡ. Chắc chắn là hai nước trên đều có sự độc quyền nhưng việc làm nhang được phổ biến ở khắp nơi của vùng Đông Nam Á, nơi mà truyền thống sản xuất tiểu thủ công nghiệp bó gọn trong một gia đình
hay nhiều gia đình vẫn luôn tồn tại và đứng vững lâu dài, bất chấp mọi đổi thay của nền công nghiệp hiện đại, hay những xu hướng đổi mới của nền kinh tế phát triển.

Ở Việt Nam, hồi nửa đầu thế kỷ 20, ở Hà Nội có các hiệu làm nhang danh tiếng như Quảng Thái, Hoàng Phát, Vạn Hoa… Nghe nói người sản xuất ở các hiệu này đều là dân làng Cao bên Hưng Yên. Cả làng Cao làm nghề sản xuất nhang, giỗ tổ nghề ngày 22 tháng 8 âm lịch. Ngoài việc ra Hà Nội, người làng Cao còn mở hiệu ở Huế và ở Sài Gòn…

Phần lớn các doanh nghiệp làm nhang đều nhỏ, có tính cách sản xuất hộ cá thể gia đình và rập khuôn điển hình theo phương thức truyền thống của người Trung Hoa về màu bột nhang, màu chân nhang, que cũng như loại hồ keo cán nhang mà sau khi phơi khô, cây nhang được định hình cứng cáp.

Sau khi nhang được cán và khô, thợ làm nhang cột thành bó rồi nhúng phần cán vào một thùng màu nước đỏ. Kế đến, họ trải các bó nhang này trên nền phơi hay giàn phơi trông rất
vui mắt. Để sản xuất loại nhang xoắn đồng tâm, người ta phải thổi bột nhang qua những cái lỗ trên một đĩa kim loại để tạo ra những dây nhang dài ngoằn giống như những cọng mì.

Cả hai loại nhang que hay nhang vòng đều có nhiều kích cỡ lớn, nhỏ đủ loại. Những nhang que thông dụng nhất có chiều dài phần bột hương khoảng 30 cm, và thời gian cháy hết khoảng một tiếng đồng hồ trở lại. Nhưng cũng có loại nhang que to kềnh như những chiếc hoả tiễn, được sơn màu đỏ chói và có thể cháy suốt liên tục trong 3 ngày Tết đầu năm Âm lịch hoặc những ngày lễ hội kéo dài đặc biệt khác. Thường thì những loại nhang que có hình thù kỳ dị như thế được trang trí rực rỡ bằng giấy màu hoặc được đắp nổi bởi các mô típ rồng đủ màu hay các loại mô típ khác để tạo nên dáng vẻ lễ hội đầy tính chất phô trương và giật gân.

Số nén và ý nghĩa dâng hương trong Phật giáo và các tôn giáo khác

Người Việt Nam đã quen chọn số lẻ (1, 3, 5, 7, 9) lúc thắp nhang, nhưng cũng có trường hợp người ta đốt cả nắm nhang chứ không chú trọng vào ý nghĩa con số. Còn theo lý giải của nhà Phật cho rằng số lẻ mang nhiều ý nghĩa linh thiêng hơn. Con số 3 thì có nhiều quan niệm khác nhau, đó có thể là:

Tam bảo (Phật – Pháp – Tăng),

Tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới),

Tam thời (Quá khứ – Hiện tại – Vị lai),

Tam vô lậu học (Giới – Định – Tuệ)

Nén hương, cũng có thêm một ý nghĩa đặc biệt khác nữa, đó là thắp nhang để nhớ đến sự vô thường. “Vô thường” là từ Hán-Việt, tức là không vĩnh viễn – tất cả đều giả tạm, cho nên lúc nén hương tắt cháy thì cũng tượng trưng cho đời người tắt cháy, ngắn ngủi vô thường như thời gian của nén hương… Tàn tro của hương nhắc nhở chúng ta chớ để thời gian trôi
qua, uổng phí tháng ngày.

Trong nghi lễ Phật giáo, hương là một trong sáu lễ vật dâng cúng, gồm có: Hương, Hoa, Đăng, Trà, Quả, Thực (Nhang, Bông, Đèn, Trà, Trái, Thức ăn). Tuy nhiên nhiều người không rõ về ý nghĩa sâu xa của việc cúng Phật nên bày biện đủ thức ăn uống như yến tiệc, thật là phí của, phí công mà lại còn làm sai lạc ý nghĩa. Không lẽ Phật sẽ lên trên bàn thờ mà ăn từng trái táo, uống từng chung trà hay cả nhấp từng… ngụm rượu sao?!

Theo quan niệm của Phật giáo, lòng thành thể hiện qua làn khói hương nghi ngút, không cần cỗ bàn yến tiệc thịt cá, heo quay linh đình… vì đúng ý nghĩa sự Cúng Phật thì chỉ nên dùng hương thơm, đèn sáng, hoa tươi, trái tốt, nước trong là đủ. Phật không phải ở trên bàn thờ, trong những pho tượng, mà là ở trong tâm của tất cả con người.

Ngoài những nén hương dùng ngọn lửa nóng để đốt cháy lên, chúng ta còn có thể dùng đức tin của mình thắp lên những nén Tâm hương – hương từ trong tâm khảm mỗi cá nhân. Bởi vậy mới có năm thứ hương dùng để cúng dường chư Phật: Giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương.

Không chỉ Phật giáo, mà cả các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo cũng dùng hương trong các ngày lễ của mình. Người Thiên Chúa giáo xông hương trong các thánh lễ, trước bàn thờ, trước cuốn Kinh Thánh, mình Thánh, rượu Thánh và cả linh cữu của người đã mất…

Trước thời Chúa Jésus, những hương liệu như loại trầm frankincense có giá trị hơn cả vàng
bạc châu báu. Đó là vì cổ nhân tin rằng những loài cỏ cây thơm là do chư Thiên ban cho từ trên cao và đã thấm nhuần hương thơm của Đức Chúa Trời.

Có tài liệu ghi rằng, khi Chúa Jésus giáng sinh, có ba vị vua đem ba thứ châu báu quý nhất trong nước thời đó để dâng lên cho ngài – đó là Vàng, Hương Trầm và Dầu thơm đặc biệt từ rễ cây Myrrh. Điều này chứng tỏ hương trầm từ xa xưa vốn đã được xem như một vật quý giá thiêng liêng. Khói hương hòa vào không khí khiến cho không gian vạn vật xung quanh đều được thơm ngát, ví như tâm hành “Tùy thuận chúng sinh” của các bậc Bồ tát Đại nhân vậy.

Những tôn giáo khác như Ấn Độ giáo (Hinduism) hay Bà la môn giáo (Brahman) thì lại dùng hương để thư giãn và tập trung hơi thở lúc ngồi Thiền. Trong khi đó, đạo Phù thủy (Wiccanism) dùng hương để trở về với sức sống thiên nhiên để cảm thông với các vị nữ thần như Aphrodite. Trái lại, theo đạo Khổng (Confucianism) thì khói hương tượng trưng cho Đại Trượng Phu – chỉ bay lên chứ không bao giờ lặn xuống.

Hương không có màu sắc nhưng luôn thơm ngát, như câu “Tự tại trong hành xứ, như chim giữa hư không, tìm dấu chân không thấy” (Như mùi hương vô sắc phảng phất thơm lừng, bậc tĩnh lặng sống tự tại giữa đời, đem lại an lạc và lợi ích cho đời nhưng không lưu lại một dấu tích danh sắc nào trên bia ký). Rời khỏi cuộc đời, có chăng chỉ là một khoảng không gian ngát hương: mùi hương của loại hương bay ngược chiều gió!2

Ở nhiều vùng Nam Bộ, người ta còn thắp hương cho từng gốc cây, góc nhà với quan niệm mọi vật đều có đời sống tâm linh của nó, cũng như là để thần thánh, hoặc vong/ hương linh hút vào sức lực để hiển linh.

Một điều chúng ta phải cần ghi nhớ là mỗi lần dâng hương trước bàn thờ: không những dâng hương bằng tấm lòng thành kính của mình, mà còn phải có chánh niệm. Nên cắm từng nén hương với hai tay và cắm cho ngay thẳng, tượng trưng cho tấm lòng ngay thẳng, mặc cho bão táp phong ba không hề dời đổ mà vẫn giữ nguyên phong cách của người quân tử có tấm lòng trong sạch để lưu lại tiếng thơm với đời…

Tuy nhiên, cũng cần ghi nhớ rằng các nhà khoa học mới đây cho biết nhang càng thơm càng chứa nhiều độc tố có hại cho sức khỏe con người3, vì thế không nên lạm dụng và cũng cần lưu ý vấn đề hỏa hoạn kẻo lại mất vui trong những ngày Tết!

Tham khảo:

http://www.tanhien.org/Tin_Kinh_7_GLV.htm

http://radiovaticana.org/vie/Articolo.asp?c=63920

http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/phungvu/phungh.htm

http://www.tgmtb.net/kinhthanh/Giaolyhonnhan/Phuluc3. htm

_______

Chú thích:

[1] Hiện nay chi tiết này vẫn còn được tranh cãi. Một số người đồng ý rằng trước đây Việt Nam làm lễ Phật Đản vào ngày 8/4 Âm lịch giống như Trung Quốc. Tuy nhiên, kể từ năm 1956, Đại Hội Phật Giáo Thế Giới đã thống nhất lại là ngày 15/4 (Rằm tháng 4). Và theo họ, Việt Nam theo quyết định này. Một trong những minh chứng là sự kiện Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Đại lễ Đại Lễ Vesak Thế Giới vào ngày Rằm Tháng Tư (15/4) 2008. Vesak nghĩa là Tam Hợp (Phật sinh, thành đạo và nhập tịch cùng một ngày Rằm vào các tháng 4-6-2). Việc một số sách ở Việt Nam vẫn còn ghi ngày lễ Phật Đản là ngày 8/4 Âm lịch, theo họ, là vì phần lớn sách Phật giáo ở Việt Nam dịch từ sách Trung Quốc, mà với Trung Quốc ngày lễ này vẫn không đổi (8/4 Âm lịch).

Một số người khác lại cho rằng tuy có quyết định của ĐH Phật Giáo Thế Giới, riêng TQ và một số nước khác vẫn giữ ngày 8/4, không chịu đổi. Và trong đó có Việt Nam.

[2] Trích ý kinh Pháp Cú, nguyên văn kinh như sau:

“Hương các loài hoa thơm
Không ngược bay chiều gió
Hương của người đức hạnh
Ngược gió khắp tung bay”

[3] Người lao động: http://www.nld.com.vn/tintuc/kinh-te/thi-truong/159346.asp

VNExpress: http://vnexpress.net/Vietnam/Xa-hoi/ 2006/01/3B9E61DF

© TCPT số 10

D

Download TCPT số 10