Hoa Kỳ, Trung Quốc và sự phát triển ở khu vực Đông Nam Á

Posted on Tháng Hai 1, 2012 bởi

4



Đặng Khương chuyển ngữ
D. S. Rajan –  SAAG, Eurasia Review

“Hoa Kỳ đang trở lại ở châu Á” là một chủ đề hiện đang thống trị các chính sách chiến lược tại Washington. Tổng thống Obama đã khẳng định thông điệp này trong bài phát biểu tại Quốc hội Úc ngày 17 tháng Mười một, năm 2011 rằng “không có bất kỳ nghi ngờ gì: tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong thế kỷ 21, Hoa Kỳ đã trở lại và rằng quyết định này là có chủ ý và chiến lược “.

Các quan chức Mỹ đồng thời cũng mô tả sự trở lại của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á là một “trục mới” trong chính sách nước ngoài, truyền đạt thông điệp rằng sự phát triển này là các bước thành công của Washington trong khi Hoa Kỳ đang bước ra khỏi những rắc rối tại Iraq và Afghanistan. Qua đây, chúng tôi nêu ra năm lý do về sự chuyển đổi trong chiến lược trọng tâm của Washington từ vùng Trung Đông đến khu vực Đông Á.

Thứ nhất, trong mặt trận kinh tế, Hoa Kỳ đang xúc tiến các mối quan hệ để thành lập hiệp ước Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership). Hiệp ước này đã không bao gồm Trung Quốc, và Bắc Kinh đang nghi ngờ rằng mục đích của TPP là nhằm trực tiếp giảm tầm quan trọng cơ chế ASEAN+3, cơ chế mà được Trung Quốc mạnh mẽ hỗ trợ và cũng là động lực chính để khu vực hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Thứ hai, lần đầu tiên Hoa Kỳ đã tham gia Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á tại Bali ngầm ủng hộ cách kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Thứ ba, việc Hoa Kỳ tổ chức các cuộc đối thoại ba bên giữa Hoa Kỳ-Ấn-Nhật Bản lần đầu tiên tại Washington vào ngày 19 tháng Mười hai, năm 2011, đã làm các giới truyền thông Trung Quốc quan tâm, và đã bày tỏ sự quan ngại đặc biệt.

Thứ tư và đây cũng là điểm một lần nữa làm cho Bắc Kinh phải đau đầu, trong chuyến ghé thăm Úc của Tổng thống Obama hồi tháng 11, năm 2011, Hoa Kỳ và Úc đã đồng ý về việc trao đổi quân đội Mỹ thông qua một căn cứ tại Darwin ở miền bắc nước Úc.

Cuối cùng, Hoa Kỳ đã xây dựng chiến lược quốc phòng mới trong thời hậu-Iraq và Afghanistan được gọi là “Duy trì vị thế ưu tiên lãnh đạo toàn cầu của Hoa Kỳ liên quan đến quốc phòng trong thế kỷ 21” (Sustaining US Global Leadership Priorities for 21st Century Defence – Washington, ngày 5 Tháng Một, năm 2012). Trong chiến lược này, Hoa Kỳ có đặc biệt đề cập đến Trung Quốc, nói rằng: “Trong thời hạn lâu dài, sự nổi dậy của Trung Quốc như một cường quốc ở khu vực sẽ có tiềm năng ảnh hưởng đến nền kinh tế của Hoa Kỳ và các vấn đề an ninh bằng nhiều cách khác nhau. Sức mạnh quân sự của Trung Quốc cần phải rõ ràng hơn”. Chiến lược này cũng kêu gọi “Hoa Kỳ hợp tác chiến lược lâu dài dài với Ấn Độ, một quốc gia đang nổi lên và là nền kinh tế lớn trong khu vực, có thể cung cấp an ninh trong vùng Ấn Độ Dương”. Rõ ràng chiến lược mới của Hoa Kỳ sẽ có ý nghĩa sâu sắc trong việc cân bằng lại nền an ninh ở Đông Á, đặc biệt là ở Đông Nam Á tại thời điểm mà Washington đang nổ lực tăng thêm sức ảnh hưởng mới lên các mối quan hệ “liên minh” với Nhật Bản và Hàn Quốc và ‘hợp tác’ quan hệ với các nước như Singapore, cũng như thắt chặt quan hệ với Việt Nam và Indonesia.

Bắc Kinh đang lo ngại về các chiến lược của Hoa Kỳ và điều này Bắc Kinh không thể lược bỏ sang một bên. Trung Quốc chính thức kịch liệt phản ứng (Người phát ngôn Bộ Ngoại giao, ngày 9 Tháng Một, năm 2012) và mô tả chiến lược mới của Hoa Kỳ là “vô căn cứ và không đáng tin cậy” cũng như tuyên bố rằng “mục đích chiến lược của Trung Quốc là rõ ràng, cởi mở và minh bạch.”

Chuyển sự chú ý đến vai trò của Trung Quốc ở vùng Đông Nam Á, một khu vực mà cả lợi ích của Ấn Độ lẫn Trung Quốc đang va chạm nhau, có thể nói rằng hầu hết trong tâm trí của người Trung Quốc thì sự phát triển lợi ích đất nước là điều mà họ quan tâm. Trong khi đó, Bắc Kinh nhận ra rằng hòa bình và ổn định tại khu vực Đông Nam Á cũng như hội nhập vào nền kinh tế thế giới của Trung Quốc là rất quan trọng trong mục tiêu hiện đại hóa đất nước được đề ra trong thế kỷ 21 này. Việc này có thể nhìn vào sự thành công của Trung Quốc trong công cuộc tạo dựng các mối kinh tế sống động với các quốc gia ASEAN trong những năm qua. Trong đó, nổi tiếng nhất là Hiệp định Thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN đã được ký kết trong năm 2010 và sự tham gia của họ vào một loạt các thỏa thuận hợp tác ở khu vực.

Ngược lại, ở các mặt trận về quân sự, lãnh thổ và tài nguyên, “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc dựa trên chính sách phát sinh xung đột khu vực đã làm cho nhiều quốc gia lân cận lo ngại. Điều này đã được tái khẳng định trong “Khái niệm mới về an ninh”, mặc dù Trung Quốc đã trấn an các nước láng giềng rằng Bắc Kinh không phải là một mối đe dọa cho nền kinh tế và an ninh cho khu vực. Các vấn đề chiến lược đã phân chia Trung Quốc và một số quốc gia ASEAN trở nên rõ ràng hơn khi Trung Quốc tiếp tục quyết đoán về các tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông. Thông qua đường chữ U hay còn gọi là ‘đường lưỡi bò’ mà Trung Quốc đơn phương tự đưa ra, Bắc Kinh đã ngang nhiên tuyên bố cả vùng lãnh hải rộng lớn ở khu vực này thuộc về Trung Quốc. Kết quả là Trung Quốc đã tiếp tục gây thêm các cuộc xung đột lãnh hải nghiêm trọng giữa họ và các quốc gia Đông Nam Á khác.

Để củng cố tuyên bố của họ, Bắc Kinh đã gia tăng thêm lực lược quân sự ở khu vực này, gây thêm nhiều lo ngại đối với các nước như Philippines và Việt Nam. Năm 2002, Trung Quốc đã ký bản “Tuyên bố ứng xử giữa các bên ở Biển Đông”, mà không có sự ràng buộc pháp lý nào đối với các bên có liên quan, điều này rõ ràng là lỗ hổng to lớn giúp Trung Quốc có cớ để hạnh động quyết đoán hơn. Không nghi ngờ gì, việc Trung Quốc tham gia diễn đàn ASEAN Regional Forum (ARF) ở Bali (23 tháng 7, năm  2011) và chấp nhận các “hướng dẫn” đưa ra tại buổi họp chỉ nhằm tạm thời giúp Bắc Kinh thực hiện các tuyên bố năm 2002 một cách mềm dẽo hơn và không có bất kỳ ý nghĩa nào để họ thay đổi các vị trí cơ bản về vấn đề Biển Đông. Ngạc nhiên hơn, một số học giả Trung Quốc (Giáo sư Peng Zhongying tại Đại học Renmin) đã công khai kết nối sự quyết đoán của Trung Quốc ở nước ngoài với các yếu tố áp lực trong nước.

Giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã có sự khác biệt quan n₫iểm cơ bản các giá trị chung, và điều này sẽ ảnh hưởng đến các chiến lược ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Đứng trên khía cạnh của Hoa Kỳ thì họ cho rằng các trường hợp tranh chấp tại đảo Senkaku thuộc thẩm quyền của hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật, và việc này đang được xem là một thách thức nghiêm trọng đối với Bắc Kinh. Một ví dụ khác là Hoa Kỳ cho rằng các tranh chấp tại khu vực Biển Đông cần phải được giải quyết với các nỗ lực đa phương. Trung Quốc mạnh mẽ phản đối và cho rằng vấn đề Biển Đông cần được giải quyết dựa trên các cuộc đàm phán song phương.

Về mặt chiến lược, Trung Quốc lại quan tâm về vai trò của Hoa Kỳ ở châu Á bao gồm vị trí của Washington ở khu vực Biển Đông, lực lượng quân sự của Hoa Kỳ ở Trung Á, liên minh Mỹ với Nhật Bản và Hàn Quốc, cũng như sự hợp tác quân sự với Mông Cổ (Thiếu tướng Luo Yuan). Một quan điểm quân sự khác (Lin Zhiyuan thuộc Sở Nghiên cứu Quân sự, Học viện Khoa học Quân sự, Bắc Kinh, Thời báo Quân Giải phóng, ngày 29 Tháng Mười hai, năm 2011) cho rằng Hoa Kỳ “đang tăng cường các nỗ lực nhằm cân bằng nền an ninh với Trung Quốc, thực hiện các biện pháp toàn diện để ngăn chặn Trung Quốc và kích động các đồng minh đóng góp và tham gia nhằm kiềm chế Trung Quốc. Thông qua các chiến lược mới này, Hoa Kỳ đang tìm kiếm một cách mới để thống trị khu vực châu Á-Thái Bình Dương”. Trong khi đó, có một số ý kiến ​​ khác trung dung hơn ở Trung Quốc cho rằng Mỹ không phải ‘kiềm hãm’ Trung Quốc, mà chỉ “đối xứng” với Trung Quốc (Giáo sư Jin Canrong, Đại học Renmin, Bắc Kinh).

Một yếu tố lớn khác khá quan trọng trong chiến lược Đông Nam Á là sự khác biệt trong nội bộ ASEAN. Trong khi một số nước trong khu vực Đông Nam Á xem Hoa Kỳ như một nước có thể bảo đảm nền an ninh để chống lại các ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc, thì ngược lại, sự mâu thuẫn này cũng đang gặp vấn đề không nhỏ. Malaysia và Singapore muốn Hoa Kỳ và Trung Quốc cùng tồn tại một cách hòa bình ở Đông Nam Á. Sự phụ thuộc vào kinh tế và thương mại của Trung Quốc có thể là lý do chính. Miến Điện cho đến nay vẫn phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc không chỉ cho việc hỗ trợ quân sự và kinh tế, mà còn phụ thuộc để có tính hợp pháp của phe quân sự. Việt Nam, Indonesia và Philippines, ở nhiều mức độ khác nhau, trong thời gian ngắn hạn cũng như dài hạn đã cảnh giác về sự trổi dậy của Trung Quốc như một quyền lực chính trị, kinh tế và quân sự lớn. Singapore, Philippines, Việt Nam và Thái Lan ủng hộ nguyên tắc tự do hàng hải ở Biển Đông (như đã thấy trong Hội nghị Thượng đỉnh Bali năm 2011) và đây là một thách thức đối với vị trí của Trung Quốc trong vấn đề này. Ngoài ra, Trung Quốc cũng không nhận được sự hỗ trợ nào đối với vấn đề liên quan đến Đài Loan, nước hiện cũng có các mối quan hệ với Mỹ và tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông. Chung quy lại, có thể nói rằng các quốc gia Đông Nam Á chỉ xem Trung Quốc như là một đối tác kinh tế cung cấp sự thịnh vượng, nhưng lại quay sang Hoa Kỳ để siết chặt vấn đề an ninh nhằm mang lại hòa bình trong khu vực.

Về cơ bản, những thách thức chiến lược của Ấn Độ trong khu vực Đông Nam Á đến từ Trung Quốc. Bắc Kinh đã phản đối mạnh mẽ về các mối hợp tác giữa Ấn Độ và Việt Nam trong các dự án thăm dò dầu khí tại Biển Đông, và đây là một ví dụ nổi bật. Bắc Kinh cũng đã e dè về vai trò hàng đầu của Ấn Độ trong quá trình hội nhập tại Đông Á. Chúng ta cần phải loại bỏ những nghi ngờ này của Trung Quốc, bằng cách thông qua các vòng đối thoại song phương. Chúng ta nên hiểu rằng về bản chất của các vấn đề liên quan như kinh tế, chính trị và an ninh đã thúc đẩy Bắc Kinh hướng đến Ấn Độ, Úc và Tân Tây Lan như những “người ngoài” nhằm hình thành một trật tự tại khu vực Đông Á. Lựa chọn thứ hai của chúng ta là xây dựng các cầu nối vững chắc với các nước ASEAN để họ có thể chào đón sự tham gia của Ấn Độ. Hiệp ước thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc cung cấp nhiều điều kiện thuận lợi đối với các quốc gia trong khu vực hơn so với hiệp ước tương tự giữa hai nước Trung-Ấn. Lĩnh vực “dịch vụ” vẫn còn nằm ngoài tầm nhìn trong các hiệp ước giữa Ấn Độ-ASEAN. Ấn Độ cần phải thu hẹp khoảng cách này. Ngoài ra, Ấn Độ có thể cung cấp các hỗ trợ cần thiết cho các quốc gia Đông Á trong việc xây dựng khả năng để bảo vệ các tuyến đường biển. Ngoài ra, Ấn Độ còn có thể hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á trong các phạm vi lớn liên quan đến lĩnh vực an ninh và quân sự trên phương diện phi truyền thống.

(Bài trên đã được trình bày tại cuộc hội thảo “Đánh giá lại chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với châu Á”, tổ chức tại Chennai vào ngày 9 Tháng Một, năm 2012, do Chennai Centre for China Studies cùng hợp tác với Trung tâm Nghiên cứu châu Á  & The University of Madras tài trợ.)

© 2012 Bản tiếng Việt TCPT

Advertisements
Posted in: Chính trị