Việt Nam và trào lưu Lãng mạn

Posted on Tháng Ba 1, 2012 bởi

0



Nguyễn Hoài Vân
Nguồn: nguyenhoaivan.com

Có thể nghĩ rằng « lãng mạn chủ nghĩa » chính là một trong những nguyên do sâu xa của của thảm kịch Việt Nam …

Mỗi thời đại có những quan điểm văn học nghệ thuật của mình. Trào lưu lãng mạn từng có giai đoạn tột đỉnh vinh quang, nhưng khi người ta lạm dụng những “công thức” lãng mạn một cách máy móc, với những hình ảnh không thật, những cảm xúc bị phóng đại quá lố, thì người ta dần dần bước sang thoái trào của nó.

Phong trào Lãng Mạn trong bản chất chính là một cuộc cách mạng. Sau giai đoạn « cổ điển » với những quy luật áp đặt từ bên ngoài, người văn nghệ sĩ phản ứng bằng cách phá đổ những quy luật ấy, và nêu cao những gì chính họ cảm thấy, diễn đạt những tiêu chuẩn của hay và đẹp đến từ chính tâm hồn họ, với những sắc thái bi ai, hùng tráng, hoặc tuyệt vọng mà chính họ đã nhận chân ra. Tình yêu, sự chết, những mộng mơ, nỗi buồn chán, cảm giác hư vô, tuyệt vọng, thường được trường phái Lãng Mạn cho kề cận với lòng trìu mến thiên nhiên, niềm gắn bó với xóm làng, sự tôn thờ quốc gia, dân tộc … Với trào lưu lãng mạn, người ta không còn phải làm thơ, viết văn, vẽ tranh hay tạc tượng … theo những nguyên tắc quy định « chân thiện mỹ » của thời cổ điển nữa, mà phát biểu mạnh mẽ cái « tôi ». « Tôi » kể ra những gì « tôi » cảm nhận trong đời sống của chính « tôi » với những lời lẽ, màu sắc, đường nét của « tôi », do « tôi » chọn lựa.

Vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi thấy trào lưu Lãng Mạn phát triển mạnh mẽ trong những giai đoạn cách mạng, khi những tiêu chuẩn của một xã hội sơ cứng đang bị đào thải. Ở Việt Nam đó là thời kháng chiến dành độc lập.Tại Tây Phương, thì có thể nói là cuộc Cách Mạng Pháp đã phần nào đẻ ra giai đoạn Lãng Mạn, đồng nhịp với sự đề cao lý tưởng tự do, khai phóng, trong bối cảnh soi mòn của một số giá trị truyền thống. Khuynh hướng quốc gia chủ nghĩa, kể cả phiên bản quá khích của nó, như Phát Xít, Quốc Xã, cũng từ sự bùng nổ ấy mà biến thái ra. Bên cạnh đó, các nhà Xã Hội « hoang tưởng » chỉ biểu lộ một sắc thái của trào lưu Lãng Mạn. Rồi Marx, khi kế thừa Xã Hội Chủ Nghĩa « hoang tưởng » (*), tuy tự nhận mình là « khoa học », nhưng trong chiều sâu, có xa xôi lắm đối với chủ nghĩa Lãng Mạn hay không ?

Khi khai phóng con người, một cuộc Cách Mạng không làm gì khác hơn là khuyến khích mỗi cá nhân tự phát biểu cái « Tôi » của mình (**). Vấn đề là điều ấy, đến một lúc nào đó, cũng sẽ trở nên nặng nề, nhàm chán. Khi từng đàn « cái tôi » này bắt chước những « cái tôi » khác trong việc phơi bày tình cảm, phô trương cảm xúc, áp dụng những công thức lập đi lập lại, kể lể và phóng đại những câu chuyện cá nhân lâu dần trở thành nhàm chán, thì người ta không khỏi dị ứng với trào lưu lãng mạn, và hướng đến một loại nghệ thuật nhẹ nhàng hơn, ấn tượng hơn (impressionisme) rồi biểu tượng hơn (expressionisme – symbolisme), trước khi trở thành trừu tượng (art abstrait), qua đến siêu thực (surréalisme), chinh phục những khái niệm (art conceptuel), những quan tâm xã hội (art social), những ranh giới tận cùng (art extrême), trước khi quay về với « quá khứ mà không phải là quá khứ » trong nghệ thuật hậu tân tiến …

Vấn đề là văn học nghệ thuật Việt Nam, trải qua nhiều thế hệ, vẫn quá nặng nề đặc tính lãng mạn.

Càng là « vấn đề » hơn khi có thể nghĩ rằng « lãng mạn chủ nghĩa » chính là một trong những nguyên do sâu xa của của thảm kịch Việt Nam. Vì tập quán lãng mạn, trong bản chất, chính là phóng đại các ý tưởng chủ quan, nên dễ lôi kéo người ta lao vào những cuộc phiêu lưu xa rời thực tại, hành xử chủ quan, duy ý chí. Cách hành xử này đưa đến phản ứng dễ dàng tự hy sinh, và dẫn theo vô số sự hy sinh khác, cho những viễn tượng huyền ảo, không thực tế, chỉ nặng về tình cảm. Như đã nói, Cộng Sản, Nazisme, quốc gia chủ nghĩa cực đoan, đều thoát thai từ trào lưu lãng mạn của thế kỷ 19. Những chủ thuyết ấy cực kỳ phóng đại một số tình cảm hay suy nghĩ thông thường của con người, để cuốn hút một quần chúng dễ bị ảnh hưởng, vào những hành vi quá lố, không thực tế, những cuộc phiêu lưu chính trị, có khi tàn bạo, phi nhân.

Nhận xét vừa được nêu lên có thể cắt nghĩa vì sao một số nước nghèo, cựu thuộc địa, đã hội nhập thuyết Cộng Sản một cách quá dễ dàng, bất chấp hố sâu cách biệt văn hóa, tư tưởng, cũng như sự thiếu thích hợp của điều kiện sinh sống cụ thể. Như đã nói ở trên, tuy Marx có cảnh giác người đọc ông về sự tai hại của óc chủ quan, duy ý chí, và tự cho mình là “khoa học”, nhưng chính Marx cũng nhận biết là tư tưởng của mình chưa đạt được đến trình độ khoa học. Vì thế ông đã do dự nhiều thập niên không chịu cho in những tác phẩm quan trọng nhất của mình. Vào lúc đã lớn tuổi, Marx cật lực lao vào nghiên cứu toán học cũng vì lý do ấy. Ông muốn tìm ra một công thức để kiểm chứng thuyết giá trị. Vì thế, khi những người kế thừa rất xa xôi của học thuyết Marx, là các chính quyền Cộng Sản, tự cho họ là khoa học, thì trong thực tế, chỉ là nói càn mà thôi. Bản chất của những gì các chính quyền này tuyên dương chính là chủ quan, duy ý chí, kế thừa truyền thống lãng mạn. Khi chạy theo Cộng Sản, một số người dân của những quốc gia chưa phát triển đang thoát khỏi chủ nghĩa thực dân chỉ chạy theo những sắc thái lãng mạn của chủ thuyết ấy, mà không cần biết đến nội dung đích thực của nó.

Cần nói là những người chống cộng phần nhiều cũng không ra ngoài nền nếp suy tư lãng mạn tương tự. Tuy họ có thua đối phương ở chỗ người Cộng Sản, ít ra là từ Staline, biết rất rõ điều đó, nên chỉ triệt để khai thác các đặc tính lãng mạn của chiêu bài Cộng Sản để dụ dỗ thiên hạ mà thôi, chứ không bao giờ muốn áp dụng nó hay tin tưởng vào nó ! Khi đánh vào « Cộng Sản » những người chống Cộng hoàn toàn đánh hụt, tấn công một mục tiêu không hiện hữu, một ảo tưởng được đối phương của mình dựng nên.

Ngày nay, ở thời đại hậu tân tiến, qua một cuộc cách mạng khác, cuộc cách mạng tin học, cộng với khuynh hướng toàn cầu hóa, văn học nghệ thuật và tư tưởng bước sang một khúc quanh mới, những quan tâm cố hữu như gia đình, tình yêu, tình dục, quốc gia, dân tộc … dần dần biến thái, những chân trời của suy tư như dân chủ nghị trường, kinh tế thị trường tự do, dần dần bị đẩy lùi, nhường chỗ cho một không khí hoài nghi, hay tích cực hơn, một sự tìm tòi, sáng tạo, trong đó mong rằng người Việt Nam sẽ có một vị thế xứng đáng …

N.H.V.

 _________

(*) Engels : “Chúng ta, những người Xã Hội Đức, hãnh diện vì nguồn gốc của chúng ta không những đến từ Saint Simon, Fourier và Owen, mà từ cả Kant, Fichte, và Hegel”. Đọc : Những Ngộ Nhận Về Học Tuyết Marx – Nguyễn Hoài Vân – 2004

(**) Nỗ lực đoàn ngũ hóa, bắt “cái tôi” phải biến mất trong một tập thể được lãnh đạo một cách chặt chẽ không liên hệ gì đến Cách Mạng, mà là sự thoái trào của Cách Mạng, khi người ta đảo ngược cứu cánh với phương tiện, trong mục đích duy trì quyền hành, hay, lý tưởng hơn, duy trì những « thành quả của Cách Mạng ». Theo học thuyết Marx, dần dần tình trạng ấy cũng sẽ trở thành phản động, và lại đòi hỏi một thay đổi.