Quốc hội thực quyền [*]

Posted on Tháng Ba 4, 2012 bởi

0



Nguyên Lâm
Trích từ Blog EchXanh1968

Bài viết nhỏ này góp một cái nhìn tại sao quyền của Quốc hội có nguy cơ thành hư quyền và làm thế nào để Quốc hội được thực quyền hơn.

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật nước ta, Quốc hội có rất nhiều quyền và quyền rất to. Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan lập hiến và lập pháp duy nhất (cao nhất trong các cơ quan có quyền ban hành văn bản pháp luật), cơ quan giám sát tối cao (cũng tức là cao nhất), quyết định những vấn đề quan trọng nhất (những chuyện to nhất). Nghĩa là “nhất” ở rất nhiều nơi. Thế nhưng, trên thực tế thì một số quyền đó đã là hư quyền, còn một số khác có nguy cơ trở thành như vậy. Bài viết nhỏ này góp một cái nhìn tại sao quyền của Quốc hội có nguy cơ thành hư quyền và làm thế nào để Quốc hội được thực quyền hơn.

Quyền được quyết

Quyền trên văn bản có thể thành hư quyền nếu trên thực tế Quốc hội bị đặt trước những chuyện đã rồi. Chẳng hạn như chuyện đổi tiền ở Quốc hội khoá VII mà ngay cả Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hữu Thọ chỉ được biết vào phút chót, khi đã được quyết định xong.[1] Hoặc ở khóa VIII, Quốc hội chưa họp, chưa bàn, chưa quyết, chưa ra nghị quyết mà đã có văn bản cho phép tách một số tỉnh và văn bản đó được triển khai ngay.[2] Ngay như gần đây nhất, tại kỳ họp tháng 11/2005, toàn thể Quốc hội còn chưa bàn, chưa bấm nút biểu quyết mà đã có vị tuyên bố hùng hồn rằng, kiểu gì cũng phải thông qua dự thảo Luật đầu tư chung.[3]

Trong mấy năm gần đây, ngay cả một số nhà nghiên cứu về Việt Nam người nước ngoài vốn khắt khe trong đánh giá cũng nhận xét rằng, Quốc hội Việt Nam ngày càng thực quyền hơn, không còn nhiều đặc tính của một “Quốc hội con dấu” nữa.[4] Không có nội dung khẳng định như kiểu nói “Quốc hội con dấu”, ý kiến của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta trước đây lại có ý tứ cảnh báo. Chẳng hạn ông Nguyễn Văn Linh từng dặn “đừng biến Quốc hội thành cây cảnh”;[5] hoặc như ông Võ Chí Công thì nói đại ý không nên gò bó Quốc hội thông qua những chuyện đã được sắp đặt.[6] “Đừng biến…”, hay “không nên gò bó…” gợi đến suy nghĩ: như vậy, có nguy cơ “biến” Quốc hội thành cây cảnh, có nguy cơ “gò bó” Quốc hội. Còn khi nói “không còn nhiều đặc tính con dấu”, có thể hiểu ý của mấy ông nước ngoài là vẫn còn, dù ít. Vậy làm thế nào để không xảy ra nguy cơ đặt Quốc hội trước việc đã rồi, và để các nhà nghiên cứu nước ngoài không còn lý do để nói vậy nữa?

Để không đặt Quốc hội vào tình trạng phải thông qua những chuyện đã rồi, trong khi nhấn mạnh sự lãnh đạo của Đảng, cần phân định rạch ròi giữa “quyền lãnh đạo của Đảng” và “quyền lực nhà nước”. Đảng không phải là cơ quan quyền lực nhà nước. Từ trước tới nay, lãnh đạo Đảng đã có nhiều ý kiến nói về ranh giới này.[7] Mới đây nhất, bài phát biểu của ông Trương Đình Tuyển tại Đại hội X về đổi mới phương thức và nội dung lãnh đạo của Đảng đã được cả hội trường tán thành cao. [8] Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh sau khi tái đắc cử trả lời báo chí cũng nhấn mạnh Đảng không làm thay hệ thống Nhà nước.[9] Việc phân định giúp tránh tình trạng bao biện, làm thay; sự bao biện chỉ có làm suy yếu bộ máy nhà nước, suy yếu Quốc hội, cũng có nghĩa là đi ngược với mục đích của sự lãnh đạo.

Tiếp theo, nên hiểu nguyên tắc tập trung dân chủ là tập trung trong Đảng, dân chủ ở Quốc hội. Tập trung đối lập với quan liêu, độc đoán, áp đặt ý kiến. Mọi quyết định tập trung đều phải được hình thành và tổ chức thực hiện thông qua dân chủ, phát huy mọi sự sáng tạo. Khi đã thống nhất các chủ trương lớn trong Đảng rồi thì bước tiếp theo là đưa ra bàn rộng hơn, công khai ở Quốc hội cho dân biết. Với bản chất dân chủ, với tính chất diễn đàn mở của Quốc hội, cần thấy trước và chấp nhận các ý kiến thảo luận đa chiều ở Quốc hội. Dân chủ thể hiện trong mọi hoạt động: thảo luận và thông qua các dự luật, chất vấn, thảo luận và biểu quyết các vấn đề kinh tế-xã hội, quyết định các dự án lớn, bầu và phê chuẩn nhân sự.

Cuối cùng, trong quá trình bàn bạc để đi đến quyết định theo đa số ở Quốc hội, các ý kiến thiểu số muốn mình được lắng nghe. Biểu quyết theo đa số, nhưng bảo vệ quyền của ý kiến thiểu số là một đặc trưng nữa của Quốc hội. Thường là những ý kiến đó không đồng nhất với đa số do các đại biểu – đảng viên tạo ra, cũng có nghĩa là chưa đồng nhất với khía cạnh nào đó của chủ trương lớn. Tuy nhiên, như đã nói, Đảng lãnh đạo Quốc hội nhưng không áp đặt, mà qua con đường thuyết phục, thảo luận, thương lượng. Khi biết lắng nghe những ý kiến như vậy, Đảng có thể rút ra những kết luận bổ ích cho hoạt động của mình và cho Quốc hội.

Quyền nặng quá

Nguyên nhân tiếp theo làm giảm thực quyền của Quốc hội nằm ở các “quyền thừa”: các văn bản trao cho Quốc hội một số quyền không hợp với bản chất của Quốc hội, hoặc vượt ra ngoài khả năng của Quốc hội. Chưa có điều kiện rà soát tổng thể, nhưng có thể nêu sơ bộ một vài quyền như vậy. Chẳng hạn như quyền giải thích Hiến pháp của UBTV Quốc hội. Trên thực tế UBTV Quốc hội chưa bao giờ thực hiện được quyền này, vì một lẽ rất đơn giản: giải thích Hiến pháp vốn là chức năng của toà án, với một quy trình thủ tục tư pháp, chứ không phải của một cơ quan dân cử. Hơn nữa UBTV Quốc hội cũng không đủ thời gian và con người để làm việc đó. Sau này khi cơ chế bảo hiến được thiết lập, cái quyền rất to này có lẽ sẽ được chuyển sang đó. Như vậy, nhân đây cũng thấy rằng, cơ chế bảo hiến đặt trong Quốc hội dường như không phù hợp lắm và có thể sẽ biến quyền giám sát bảo hiến thành hư quyền.

Một ví dụ nữa là “giám sát tối cao” với một phạm vi giám sát rộng như trời bể, không thể nào ôm xuể. Trong khi đó trọng tâm của giám sát là phản biện, canh chừng chính sách, hoạt động của hành pháp và theo dõi đường đi nước bước của tiền ngân sách. Vậy thì điều nên làm ở đây là rà lại và gọt bỏ những gì thừa đi cho gọn nhẹ, chuyển những gì không phù hợp cho các thiết chế khác.

Sở dĩ Quốc hội được (hay bị?) trao quyền nặng quá như vậy là vì theo lý thuyết thống nhất quyền lực, mọi quyền lực đều tập trung vào Quốc hội. Nhưng tư duy biện chứng và tư duy lịch sử mà chúng ta hay nhắc đến lại đòi hỏi mọi lý thuyết đều phải được lật đi giở lại, phải phát triển cho phù hợp với thời cuộc. Mà thời cuộc lại cho thấy, sự tập trung quyền quá nhiều như vậy chỉ làm cho Quốc hội nặng nề thêm, không phản ứng kịp với những biến chuyển của thực tiễn. Vượt qua được tư duy thì việc chuyển quyền từ đây sang đó chỉ là chuyện nhỏ về kỹ thuật.

Nền tảng để thực thi quyền

Quốc hội có nhiều quyền như vậy nhưng điều kiện để thực thi quyền chưa tương xứng. Chơi chữ như tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng là Quốc hội nhiều “quyền” nhưng thiếu “lực”.[10] Còn nếu ví Quốc hội như một người khổng lồ, thì thân trên của người khổng lồ đang có vẻ cồng kềnh, nhưng đôi chân có vẻ chưa đủ mạnh để nâng toàn bộ cái thân hình to lớn đó. Các điều kiện cần và đủ để thực thi quyền là con người (các đại biểu chuyên nghiệp), tổ chức (hệ thống các uỷ ban mạnh), bộ máy phụ trợ (chuyên gia, nhân viên giúp việc, hệ thống thư viện, thông tin, Thanh tra Quốc hội, Kiểm toán Quốc hội). Chẳng hạn, nếu được cung cấp thông tin đã được phân tích, các đại biểu chắc sẽ không còn ngậm ngùi nhìn các bộ trưởng “múa các con số” như đã từng xảy ra.[11] Hoặc nếu có một hệ thống uỷ ban mạnh, nơi canh cổng và soi các dự luật của Chính phủ một cách khắt khe nhất, có lẽ các đại biểu cũng không còn phân vân khi bấm nút biểu quyết thông qua.[12] Có nghĩa là Quốc hội sẽ thực quyền hơn khi làm chức năng lập pháp và giám sát.

Thực ra các quyền to nhất của Quốc hội đều do hơn 80 triệu dân Việt trao cho, như Hiến pháp năm 1992 quy định: “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, hay nói cách khác là xuất phát từ nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nói: “bao nhiêu quyền hạn đều của dân…quyền hành và lực lượng đều ở dân”. Các quyền này nếu được thực hiện đúng sẽ mang lại rất nhiều lợi ích lớn cho quốc gia và lợi ích thiết thực cho cử tri. Vì vậy, thực quyền ở đây có nghĩa thực sự đại diện cho ông chủ của quyền lực đó, tức là dân. Thế nhưng, như ông Võ Văn Kiệt nhận xét, cả động lực và năng lực để đại diện cho dân đều đang có vấn đề[13]. Theo ông Kiệt, “động lực phải tận tuỵ với Đảng bao giờ cũng áp đảo”, nên khó xác lập trách nhiệm trước dân. Trong khi đảng viên chỉ chiếm 5-6% tổng số cử tri cả nước, thì đảng viên trong Quốc hội lại chiếm tới trên dưới 90%. Con số này làm nảy sinh câu hỏi: Quốc hội đại diện cho ai? Cho cử tri cả nước hay cho 3 triệu đảng viên? Để đảm bảo tỷ lệ hợp lý hơn, như ông Kiệt đề nghị, một đảng cầm quyền chỉ cần chiếm trên 50% số ghế trong Quốc hội là đủ. Còn về năng lực đại diện, sự kiêm nhiệm quá nhiều giữa công việc Đảng, việc hành chính với đại diện làm khó cho không khí dân chủ ở Quốc hội, lại gây quá tải và lãng phí thời gian, dẫn đến xung đột lợi ích. Muốn vượt qua, chúng ta cần có một Quốc hội chuyên nghiệp. Chỉ có hoạt động chuyên nghiệp và tính chuyên nghiệp mới có đủ điều kiện để đại diện cho dân, để thực thi các quyền mà dân trao cho hiệu quả hơn.

Cuối cùng, nếu quyền đã được trao, điều kiện để thực thi quyền đã có, nhưng người được trao quyền mà không muốn hoặc e ngại thì cũng khó có thực quyền. Như vậy, thực quyền phụ thuộc rất nhiều vào từng đại biểu Quốc hội. Nhân dân- ông chủ quyền lực chưa bao giờ muốn có nhưng đại biểu “hiền lành” cả. Những người chủ quyền lực muốn những người đại diện cho mình dám quyết, đủ dũng khí và trí lực để quyết, để thực thi những quyền mà mình đã trao.

[*] Bài đã đăng trên Hiến kế Lập pháp, phụ bản của Nghiên cứu Lập pháp, 2006.


[1]Trần Ngọc Vừng , “Đổi mới- từ những việc cụ thể”, Nghiên cứu Lập pháp, số 8-2002.

[2] Như trên.

[3] Vietnamnet, “Dự luật Đầu tư vẫn được thông qua?”, http://www.vnn.vn/chinhtri/2005/11/508017/ .

[4] Carlyle A. Thayer, “Political Outlook for Vietnam, 2005-2006”; paper presented at Vietnam Regional Forum 2005, Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, 1/2005 ;

Martin Gainsborough, “Rethinking Vietnamese Politics: Will the Real State Please Stand up?”, paper presented at the Vietnam Update 2005 at the Australia National University, Canberra, 8/2005 .

[5] Nguyễn Như Du, “Đồng chí Nguyễn Văn Linh với đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội”, Nghiên cứu Lập pháp, số 9,2002.

[6] Nguyễn Như Du, “Đồng chí Võ Chí Công với đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội”, Nghiên cứu Lập pháp, số 11, 2002.

[7] Nguyễn Như Du, xem chú thích 5 và 6.

[8] Vietnamnet ngày 20/4/2006, “Đảng đổi mới lãnh đạo bằng dân chủ và pháp quyền”, http://vietnamnet.vn/

[9] Tuổi Trẻ ngày 26/4/2006, “Tổng bí thư Nông Đức Mạnh: Đẩy lùi, chặn đứng tham nhũng, tiêu cực” http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=134681&ChannelID=3

[10] Báo Khoa học và Đời sống, “Quốc hội-một quá trình nhận thức mới”, phỏng vấn TS Nguyễn Sĩ Dũng, số Xuân Bính Tuất 2006. Có thể xem tại: http://www.na.gov.vn/60namqhvn/cacbaiviet/QH%20qua%20trinh%20nhan%20thuc%20moi.htm

[11]

[12]

[13] Võ Văn Kiệt, “Ba thách thức của Quốc hội”, tham luận trong Hội thảo “QH VN 60 năm hình thành và phát triển”, do Văn phòng Quốc hội tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh ngày 27/12/2005. Có thể xem ở: http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=117447&ChannelID=3

Posted in: Chính trị