Việt Nam, quốc gia đang lên

Posted on Tháng Ba 20, 2012 bởi

0



Miên Thy chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Gerald W. Fry*, The Nation

Một yếu tố quan trọng góp phần cho sự thành công trong nền kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây là sự cam kết phát triển giáo dục và nhân lực. Việt Nam khác với các nước láng giềng ASEAN trong nhiều cách.

Trong thực tế thì Việt Nam, với những ảnh hưởng Nho giáo mạnh mẽ, đôi khi lại bị gom chung với các nhóm văn hóa như Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tương tự như Nhật Bản và Hàn Quốc, Việt Nam cũng phải gánh chịu sự tàn phá từ chiến tranh.

Để hiểu rõ hơn về Việt Nam và sự năng động của nền kinh tế hiện nay cũng như hệ thống giáo dục, thì điều đầu tiên là phải hiểu về nền lịch sử phong phú của nước này.

Có bốn chủ đề chính về lịch sử Việt Nam cần phải hiểu. Đầu tiên, Việt Nam đã có hơn 1.000 năm dưới sự ảnh hưởng trực tiếp của Trung Quốc. Thứ hai, Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với nhiều thảm họa thiên nhiên như lũ lụt và bão lớn. Điều này buộc họ phải có những phát triển sáng tạo như đấp đê khổng lồ nhằm bảo vệ Hà Nội khỏi các cơn lũ lụt ở khu vực sông Hồng. Thứ ba, Việt Nam phải đối mặt với các mối xâm lược nghiêm trọng từ bên ngoài như Mông Cổ, Trung Quốc, Pháp, và cuối cùng là người Mỹ. Để đánh bại những kẻ xâm lược, Việt Nam đã phải xử sự hết sức khéo léo và thông minh. Thứ tư, trung tâm văn hóa của Việt Nam là ngôi làng, nơi mà giáo dục và sự giảng dạy được đánh giá rất cao.

Sự ảnh hưởng đa dạng từ quốc tế cũng đã giúp định hình nền giáo dục Việt Nam ngày hôm nay. Hơn 1.000 năm dưới sự cai trị của Trung Quốc, Việt Nam đã bị ảnh hưởng sâu sắc với truyền thống Khổng giáo, nhấn mạnh nhiều về giá trị của giáo dục, sự tôn kính thầy cô, và động lực mạnh mẽ để học hỏi.

Là một thuộc địa của Pháp, nền giáo dục của Việt Nam cũng đã bị ảnh hưởng rất lớn. Pháp đã thay thế hệ thống quốc ngữ của Việt Nam và Trung Quốc với một hệ thống chữ viết Latin, góp phần gia tăng đáng kể trong việc xóa mù chữ và phát triển ngành công nghiệp xuất bản địa phương.

Sau đó, miền Bắc Việt Nam lại bị ảnh hưởng bởi giáo dục của Liên Xô. Điều này đã góp phần tích cực vào nền giáo dục tại Việt Nam, chủ yếu trong các lĩnh vực như khoa học, toán học, y học và các phương pháp giảng dạy ngôn ngữ.

Tiếp đó là sự ảnh hưởng của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, góp phần cho sự phát triển các trường cao đẳng cộng đồng và thúc đẩy giáo dục và đào tạo một cách rất thiết thực.

Anh hùng dân tộc và lãnh đạo của Việt Nam, Hồ Chí Minh, cũng có sự cam kết sâu sắc về giáo dục. Trong bài phát biểu tuyên bố độc lập của Việt Nam ngày 03 tháng Chín, năm 1945, ông đã nhấn mạnh rằng tương lai của Việt Nam phụ thuộc vào sự giáo dục của lớp trẻ.

Ông Hồ là một người có chủ nghĩa quốc tế, biết nhiều ngôn ngữ khác nhau. Ông thậm chí đã dành thời gian ở Isaan, Siam, ẩn núp cảnh sát thuộc địa Pháp và học tiếng Thái đáng kể ở Thái Lan. Tại Nakhon Phanom vẫn còn một ngôi làng mang tên ông, Baan Hồ Chí Minh.

Đặc biệt trong giai đoạn kể từ khi Đổi mới được công bố vào năm 1986, Việt Nam đã mở rộng giáo dục trong khuôn khổ cơ bản phổ cập tiểu học, trung học, và ngày càng có nhiều sinh viên nhanh chóng đăng ký vào đại học. Đối với một quốc gia có mức độ phát triển kinh tế như hiện nay cộng với dân số trẻ, gần như tất cả người dân ở Việt Nam đều đạt được mức học vấn tối thiểu (tiểu học và trung học cơ sở), ngoại trừ các khu vực vùng sâu vùng xa với các nhóm dân tộc thiểu số.

Để đương đầu với vấn đề giáo dục cho cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn ở các vùng xa, Việt Nam sẵn sàng trả tiền cho giáo viên nhiều hơn nếu họ đồng ý đi xa để phục vụ các cộng đồng ở đó.

Từ năm 1998 đến 2008, tại Việt Nam có khoảng 198 trường đại học/cao đẳng và các trường cao đẳng cộng đồng mới được mở ra với khu vực tư nhân được phép đóng một vai trò quan trọng trong việc mở rộng này. Chỉ riêng tại Hà Nội, hiện nay có 62 trường đại học. Tỷ lệ biết chữ lên đến 94%, một con số rất ấn tượng.

Sinh viên Việt Nam đã thể hiện nhiều thành công ấn tượng trong các cuộc thi khoa học quốc tế. Ví dụ, trong kỳ thi Olympic Toán học Quốc tế năm 2009, một cô gái Việt Nam thuộc dân tộc Nùng từ miền Trung Việt Nam đã giành huy chương vàng.

Trong Olympic Toán Quốc tế năm 2007, Việt Nam đứng thứ ba trong số 93 quốc gia, đưa Việt Nam trở thành một quốc gia “ngoại lệ”.

Với một lực lượng lao động có trình độ học vấn cao hơn, Việt Nam đã đạt được những thành công đáng kể trong việc thu hút các dự án đầu tư quốc tế. Tôi có rất nhiều bạn bè doanh nhân ở các nước Đông Á như Nhật Bản và Hàn Quốc đã bày tỏ sự hài lòng đáng kể với người lao động Việt Nam. Tôi có thể lập luận rằng Việt Nam có lực lượng lao động chất lượng nhất (so với chi phí) trên thế giới.

Một điểm tích cực mạnh mẽ khác là sự quốc tế hóa trong ngành giáo dục đại học ở Việt Nam, đặc biệt ở các cấp đại học, và sự tăng trưởng về số lượng người Việt Nam có thể học tập ở nước ngoài trong nhiều vùng miền địa phương khác nhau.

Mặc dù đạt được những thành công đáng kể nhưng Việt Nam có vấn đề nghiêm trọng về giáo dục, các vấn đề cụ thể là chất lượng trên tất cả các cấp hệ thống giáo dục, hệ thống quản lý không hiệu quả, các trường đại học thiếu quyền tự chủ, và giáo viên các trường đại học phải làm ngoài giờ vì mức tiền lương nghèo nàn (ảnh hưởng xấu đến năng suất nghiên cứu của họ).

Mặc dù có những vấn đề nghiêm trọng, Việt Nam vẫn có một tương lai tươi sáng về mặt kinh tế và giáo dục, chủ yếu dựa trên truyền thống Khổng giáo mạnh mẽ qua sự phản ánh lý tưởng như sau: “lòng tôn sùng ý tưởng về sự tự trao dồi thông qua việc theo đuổi kiến ​​thức xử lý kỷ luật là con đường để hoàn thiện con người” (Thomas Rohlen, Đại học Stanford).

* Gerad W. Fry hiện là Giáo sư Khoa Lãnh đạo Tổ chức, Chính sách và Phát triển thuộc Đại học Minnesota. Có thể liên lạc ông qua địa chỉ email: gwf@umn.edu.

© 2012 Bản tiếng Việt TCPT